Saturday, July 19, 1986

Đất Miền Đông

Hành khách đứng đông nghẹt ở phía trứơc quày bán vé về Madagui khi tôi đến để mua vé cho chuyến đi Tà Lài (chưa đến Madagui). Ngẫu nhiên người đứng chờ kế tôi là một thày tu trong bộ đồ màu nâu, đầu đội nón che gần kín cả đầu. Tôi không thích sư, mà cũng không thuộc loại người hay bắt chuyện trước, nên chỉ đứng chờ im lặng. Thì thày tu lại lên tiếng trứơc với tôi, bằng giọng nói nặng đặc trưng của miền Trung Trung bộ, ông hỏi tôi:

- Về đâu vậy?
Tôi nhìn ông ta và trả lời:
- Cây số 125.
- Tôi cũng về đó. Có bà con ở đó không?
- Tôi có người cậu ở cây số tám rưởi, đường 125- Tài Lài.
- Kinh tế mới à?
- Không, ông ấy lên đó vào khoảng năm 1975 ngay sau giải phóng. Trước đó ông ta tới lui vùng này nhiều để khai thác gỗ.

Ông cho biết là ông đi cây số 12, tức khỏi chỗ tôi đến một ít. Trông ông ta gầy còm, khắc khổ nhưng riêng cặp mắt sáng quắc, linh hoạt đến khó ưa dưới làn khói thuốc thơm Sài Gòn mà ông đốt liên tục. Khi cửa phòng vé bắt đầu bán thì dòng người khốn khổ dài ngoằng bắt đầu nhích lên, đôi khi không cần dùng lực của mình mà chỉ nương theo những cái xô đẩy của người đứng sau vì họ quá nóng lòng mua cho được chiếc vé. (Những năm cuối thập niên 80 mua vé xe đối với dân thường là một cửa khổ trần gian. Tôi đã từng xếp một ngày tại bến xe Vĩnh Long để mua vé đi Sài gòn, chờ mãi mà không mua đựơc vé nào phải quay lại nhà (huyện Bình Minh) để hôm sau ra sớm quày vé huyện tôi mua để xếp hàng mua tiếp! Nhân viên bán vé cầm cả nắm giấy giới thiệu của các cơ quan, bạn bè, gia đình.. phải giải quyết mà xe thì ít ỏi vài chuyến một ngày). Cuối cùng tôi cũng được vé sau một hồi chen lấn vất vả. Với tấm vé trong tay tôi quay sang hỏi thày tu: “Anh có bíêt xe này nằm ở đâu không?”, “Đàng kia kìa!” ông trả lời.
Tôi có mang theo chiếc xe đạp đang gửi ngoài bãi gửi xe nên phải vòng ra lấy để đem đến gửi xe. Đó là chiếc xe khách bụi bậm, chạy bằng gas than hay trấu gì đó với cái bình sắt to tướng phía sau, trông xấu xí và nặng nề, tệ hơn những chiếc xe ở miền Tây tôi hay gặp.

VỀ MIỀN ĐÔNG! Với tôi miền Đông mới mẻ, miền Đông gợi tôi nhiều cảm giác lạ lùng, hiếu kỳ, khám phá. .. giống như cái cảm giác lần đầu tiên tôi ngồi trên xe qua miền Tây và Đông Nam Kampuchia. Cái khác là giờ đây tôi đi trên quê hương tôi, miền quê mà từ nhỏ tôi từng nghe qua những ca khúc trữ tình của những người lớp trước để lại, những câu ca dao tồn tại đã bao đời nhưng chưa bao giờ đặt chân tới. Bài ca có thể đánh lừa cảm xúc và làm lạc hướng mình như tôi đã từng có kinh nghiệm. Chuyến đi này có thuộc trường hợp này không? 

Trên 125 cây số đường khúc khuỷu, quanh co, khi lên đồi, lúc xuống dốc, khi đông dân và khi thì vắng vẻ, cuối cùng tôi cũng qua hết đoạn đường lúc hơn 11 giờ sáng. Bằng xe đạp mang theo tôi chạy vào đường 125-Tà Lài (cuối đường này có trạm quan trắc mực nước sông là trạm Tà Lai). Khi chạy được chừng 8 cây số, tôi bắt đầu hỏi ngừơi dọc đường, một anh đang lui cui sửa chiếc xe đạp:

- Anh làm ơn chỉ tôi đường đến nhà ông Chín Chiều.
- Ai? Chín Chiều à? Đi tới chừng 300 mét nữa, hỏi tại chợ nhỏ này, ở đấy ai cũng biết Chín Chiều! (lạ chưa, cậu Chín tôi lại dễ dàng tìm đến thế!)

 

Đến cây số 8,5 rồi theo về tay phải đi tiêp...

Tôi đi tiếp một đoạn và dừng xe hỏi một phụ nữ đứng tuổi. Ngừơi trả lời tôi, thật may mắn, lại chính là Mợ tôi (vợ Cậu Chín). Không ai biết ai, mợ tôi không biết tôi, còn tôi thì tịt mít về người Mợ này. Tôi phải giải thích mối quan hệ của mình thì Mợ mới biết. Bà bảo tôi chờ bà gặp người quen trong rẫy ra chợ để gửi họ dẫn tôi vào chòi. Khi đó đồng hồ chỉ khoảng 12 giờ.
Mợ Chín

Người dẫn đường là một phụ nữ, trông tuy ốm yếu gầy còm nhưng nhìn kỹ thì không thể nào hơn tuổi tôi. Rõ ràng cuộc sống khổ cực và chuyện chồng con đã làm chị này trông già trước tuổi. Chúng tôi đi trong trời nắng gay gắt giữa trưa, qua các rẫy đất đỏ lổm chỗm đây đó đá ong. Có nơi nó như muốn lấn cả đất trồng, lối đi. Cái cảm giác già trứơc tuổi về chị dẫn đường làm tôi mạnh miệng hỏi chị:

- Chi được bao nhiêu cháu rồi?
- Năm rồi chú!
- Trời đất, tới năm cháu lận! Nhiều quá rồi chị ơi! Tôi phát ngôn mà quên bẵng như thế là mất lịch sự, cứ ngẫm nghĩ cái tuổi ba mươi độc thân của mình.

Chị ta nghe tôi nói thì nhìn trân trân không hiểu tôi nói gì (chốn xa tít tắp núi rừng này lúc đó chắc chưa hiểu kế hoạch hoá là gì, hoặc là họ nghĩ trái lại, từng tuổi chị mà ít con có mà điên hay bệnh hoạn gì đó!). Rồi chị ta kể lể hoàn cảnh sống của gia đình chị. Thì ra cả anh chồng và chị ta đều quê tại Biên Hoà. Do bị gọi nghĩa vụ, cả hai vợ chồng bỏ xứ sở lên rừng sống để trốn, vì anh nghĩ đi nghĩa vụ thì còn ai có sức để nuôi mấy trẻ nheo nhóc ở nhà. Đó là chuyện hơn ba năm về trước (lúc đó tôi hẳn còn đi nghĩa vụ tại Kamphuchia). Chị cho biết lúc đầu rất buồn vì chưa quen cảnh núi rừng ở đây còn bây giờ thì quen rồi. Làm lụng gì cũng được: cuốc đất, trồng khoai, tỉa đậu, cắm mì, trồng thuốc.. (thuốc lá vùng này khá nổi tiếng và số lượng nhiều). Chúng tôi tiếp tục câu chuyện đường, tôi thì hỏi những câu bâng quơ như sao đá ong nhiều (Trời biết!  hoặc là lật lại sách địa lý mà xem, ai lại hỏi người dân quê mùa này mấy câu hỏi đó!); còn chị lại cứ liền miệng kể về chuyện ở đây: nào đi vào giờ này người ở đây cho là điên! Chị giải thích thêm, ở đây mọi người có thói quen đi thật sớm và về sớm, hoặc về trễ khi đã tắt nắng để tránh cái nóng kinh khủng ở đây. Rồi trồng lúa, trồng rẫy ra sao, bàu Cabin chỗ nào, bàu Kẽ, bàu Cá Rô, chợ Đoàn... Toàn là những địa danh đặc sệt tính địa phương, những địa danh tôi mới nghe lần đầu trong đời mình.

- "Có cả trường học nữa đó chú!"
- "Có à?"
- "À, do Đoàn lập đấy!"

Đoàn mà chị cứ liền miệng nhắc chính là Đoàn Kinh Tế, một đơn vị bộ đội đi làm kinh tế đấy, chuyện này hết sức bình thường vào thời điểm đó. Nét hoang sơ của vùng đất mới phá, khi cái mới chưa được bao nhiêu mà cái cũ, tức những vạt rừng bạc ngàn đã biến mất tự bao giờ!

Cuối cùng chúng tôi đến một lối mòn rẻ về chòi Cậu tôi. Tôi suýt xoa cám ơn chị dẫn đường và xăng xái dắt cái xe đạp cà tàng của tôi thẳng vào nhà Cậu.
Cậu Chín

Cũng như bao nhiêu chòi khác ở đây, chòi của Cậu cũng trống hoang, thiếu cả vách sau vách trứơc. Khi tôi tới mọi người trong nhà đang ngồi trò chuyện, Cậu tôi, Anh Ba tôi và nhiều thanh niên làm công khác vài phụ nữ. Cậu giới thiệu tôi với mọi người, trong đó có các con của cậu, tức em họ của tôi, là Trung, Dũng, Loan, hai phụ nữ làm công cho cậu.

Câu chuyện vẫn tiếp tục sau đó về hạn hán, về cái giếng nước đang đào, về hư hao trái cà phê chừng 1/3 do vụ hạn này. Còn về đào giếng thì thật kinh khủng, có lẽ nên gọi là đục giếng thì đúng hơn. Năm lao động làm 1 ngày thêm được 4 cm chiều sâu! Đấy là vì giếng đã đụng lớp đá nền rắn chắc (không hiểu có phải đá trầm tích không?). Giọt nước tại vùng này quí giá biết bao!

Tối đến trên cái giường gỗ sơ sài tôi lại nghe tiếp câu chuyện không dứt của họ. Đằng sau chòi hướng tây bắc cách chòi không xa là trái núi hầu như đã trọc cây đang đỏ rực ngọn lửa rừng! Tiếng nổ lốp bốp của tre nứa cháy làm tôi có cảm giác nó sẽ cháy đến mình vào đêm khi ngủ!  Tôi hỏi cậu khi nào thì nó tắt? Mọi người cười câu hỏi ngớ ngẩn của tôi! Vì những đám cháy đó kéo dài nhiều ngày, hàng tuần có khi đợi khi mưa đến thì nó mới tắt! Ai hơi đâu sợ chuyện viễn vông như tôi. Dù vậy khi nói đến lửa thì mọi ngừơi lại nhắc tới đám cháy gần đây làm chết 1 bé nhỏ đang ở nhà trong khi cha mẹ chúng đều đi rẫy xa.

Tối đó khi ngủ có lúc tôi giật thót mình nghe tiếng la lớn “Cháy, cháy” ! Nửa tỉnh nửa mơ tôi còn nghe âm thanh lốp bốp từ hồi chiều, và giờ còn to hơn nữa, ngỡ là đã cháy đến chòi! Nhưng không, ngừơi phụ nữ làm công, trong cơn mơ sảng đã la lên như thế.

Đêm sâu hơn thì những cơn gió se thắt càng thổi mạnh hơn nữa, tôi thấm thía cái lạnh đêm. Dù sao tôi cũng đã ngủ thiếp được có lẽ do quá mệt qua ngày đường mệt mỏi.

Sáng hôm sau tôi dậy muộn, khi thức thì cơm nước đã sẵn. Cậu cho tôi hay hôm nay đi Chợ Đoàn, cậu muốn tôi theo cho biết, còn cậu thì có công chuyện tại đó. Tôi lại náo nức muốn biết nó ra sao!

Như đã nói, Chợ Đoàn là khu chợ lập bởi Đoàn Kinh tế, phục vụ dân, thanh niên xung phong, hợp tác xã và cho chính Đoàn Kinh tế. Trên đường đến Chợ Đoàn, cậu tôi ghé vào một nông dân trông phốp phát nhưng tiếng nói lại ấm, gọi là Năm Râu.

Như tên gọi gương mặt ông đầy râu, giá mà có tiếng nói và nét dữ dằn hơn thì dễ khiến ta liên tưởng các tay anh chị khu Cầu Muối, Quận Tư hay Xa cảng...Trong lúc nói chuyện ông có lúc quay sang hỏi tôi, :

- Sao mày, có tính lên đây làm ăn không như thằng Bé vậy?
Cậu tôi đính chính ngay, tôi đang học tại Sài Gòn lên đây chơi cho biết chứ không có ý định đó!

Họ hàn thuyên chuyện về nuôi bò (gia công), về cà phê, tìm nước hay đất mới có nguồn nước tốt hơn phía bên kia sườn núi trứơc mặt. Sau cùng chúng tôi tiếp tục chuyến đi về Chợ Đoàn với sự tham gia nữa của ông Ba Râu vào đoàn chúng tôi. Qua câu chuyện tôi biết có một bữa tiệc được tổ chức nhằm khánh thành cái chợ đó, một con đường mới ủi, và trường học mới cất. Khi chưa thấy tôi tưởng nó cũng to đẹp, nhưng khi tới thì chỉ vài dãy nhà sơ sài làm gian hàng buôn bán, một sân bóng chuyền ở giữa dù khá trưa vẫn được mấy trai làng giành chơi bóng làm bụi đỏ tung lên mịt mù. Chúng tôi vào một quán. Ngồi trứơc tại một bàn có b bốn thanh niên đã quá say, nói năng mất tự chủ. Một thanh niên dong dỏng cao đang ngồi một bàn khác, và chúng tôi ngồi vào đó. Người mới tên là Tư Xe Đốt (Dodge). Anh ta đang khó chịu với cái bàn xỉn kề bên, miệng lầm bầm nho nhỏ tỏ vẻ bực tức các thanh niên kia. Năm Râu nhanh nhẩu can ngăn chớ có vương vào bọn đó làm gì. Chút sau chúng tôi rời chợ Đoàn để đi về Đoàn Kinh Tế, nơi đang đặt tiệc liên hoan. Cậu tôi và các nông dân cùng đi đều nhằm mục đích bàn chuyện nuôi gia công bò cho Đoàn. Khi đến thì tiệc cũng vừa bắt đầu và chúng tôi được mời tham gia. Chuyện làm ăn được bàn ngay trong tiệc và xong nhanh. Khi trò chuyện Tư Xe Đốt cho tôi biết anh ta quê Tiền Giang, Anh ta nói, “Xứ này là vậy đó. Dân tứ xứ. Bắc vào không theo chương trình nào thì ở đây gọi là Bắc Kỳ chui, dân Nam bộ trốn nghĩa vụ hay chạy trốn tội gì cũng vào đây, tạo thành một cộng đồng kỳ quặc đủ nét Bắc Trung Nam. Mày muốn ăn bánh chưng ngày tết? Có. Mày muốn bánh tét? Cũng có. Mày muốn mua ngô? Hay ăn bắp trái? Cũng có nốt! anh ta giải thích về địa phương của mình tại đây.

Trên đường về chúng tôi ghé nhà Anh Ba, anh của Tư Xe Đốt. Anh ta làm mộc và trồng cà phê. Lại tiếp tục câu chuyện hạn hán, tưới tiêu, nguồn nước. Nhà đầy dăm bào mà bao người hút thuốc như khói tàu hoả, thật là nguy hiểm. Năm Râu nói về việc tìm nước bằng phương pháp lạ lùng: một viên đồng treo ở đầu sợi dây, và người tìm nước chỉ cần cầm đầu kia của sợi dây và bước tới. Khi nào có nước mà bứơc qua khỏi, lập tức viên đồng sẽ chỉ lệch về nguồn nước dưới đất và người ta chỉ việc đào nơi đó là xong! Đúng là giấc mơ về nước đang đè trĩu tâm tư những người nông dân tại đây qua các câu chuyện tôi nghe được hai ngày qua.
Khi rời nhà Anh Ba của Tư Xe Đốt thì trời nhá nhem. Chúng tôi đi khi gió chiều bắt đầu thổi mạnh. Chúng tôi qua những đồi tranh, thửa ruộng, rẫy khô cằn. Về đến chòi tôi trút bộ đồ dơ ra và nằm lăn ra ngủ, mặc cho Cậu, anh tôi, các thanh niên cứ kéo dài mãi câu chuyện không hồi cuối của họ về Đường Be, bắp, thuốc, cà phê, lấy mật ong, bắt kỳ đà, bắt nhím, hay thằng X  thằng Y hôm nào bị tóm vì đốn gỗ lậu... và cả nghe những âm thanh lốp bốp của lửa đang cháy trên núi.
Hôm sau lúc 5 giờ sáng Cậu tôi đánh thức tôi để đi ra cây số 8,5 để về Sài gòn sau khi ăn sáng. Cậu cho tôi nửa cây thuốc lá “đặc sản của cây số 125” về hút chơi. Trên xe khi ngang qua đoạn rừng giá tị mà những ngừơi luống tuổi cho là của “Bà Nhu”, tôi chú ý thấy đá ong dường như nhiều  hơn cả trong rẫy. Tôi liên tưởng câu thơ rất nổi tiếng chỉ một xứ Bắc Bộ, nhưng thật hợp cho nơi này,

đất đá ong khô mờ ngấn lệ...

Sài Gòn 1986 (viết lần đầu)