Lên đường..
Sáng tôi vẫn tập thể dục, tắm rửa bình thường và đưa vợ tôi đi làm. Tôi không nói gì về kế hoạch đi chơi của tôi, khi dừng xe để vợ tôi vào sở làm, tôi mới nói là tôi đã xin nghỉ phép mấy ngày đi chơi. Vợ tôi hỏi đi đâu thì tôi nói phía Hà Tiên mà không nói rõ là lần này tôi có kế hoạch đi Campuchia chơi.
Tôi vòng lại quán ăn để dùng buổi sáng rồi điểm lại mấy thứ cần thiết phải mua trước khi lên đường: rút tiền (4 tr. đồng), đổi USD, mua ít đồ hộp. Sau khi ăn xong, tôi quày lại tủ ATM góc ngân hàng VCB rút tiền xong thì đảo sang phía tiệm vàng Thu Năm góc siêu thị, tất cả hãy còn đóng cửa. Tôi quyết định nhanh chưa cần làm những việc này khi phải mất nhiều thời gian chờ họ thức. Tôi vòng sang tiệm sách (Fahasa) mua cuốn sổ tay rồi quay về nhà soạn vài bộ đồ, lấy cái máy ảnh và khởi hành lúc khoảng 8:30 phút. Đồng hồ km chỉ số 53510 khi tôi khởi hành ở Cà Mau.
Mua đô và riel tại Hà Tiên
Con đường nối Cà Mau và Kiên Giang từ sau khi có đường xuyên Á đã rút ngắn khá nhiều, đồng thời đường tốt hơn, nên tôi chỉ mất có khoảng hơn 2 giờ một ít để đến Kiên Giang. Khi đi ngang cầu sông Cái Lớn, bên kia cầu hai bên vẫn bán khóm nhiều như ngày nào cho khách đi đường. Khóm trồng tại đây ngọt, màu vàng tươi ăn thật ngon. Tôi dừng lại mua 1 trái đã gọt và xẻ 4 và đã được ướp lạnh với giá 10.000 đ. Trái này tôi đã ăn ở đoạn gần đến Hà Tiên, khi dừng lại để nghỉ ngơi dưới bóng cây ven đường. (Mùa này khóm rẻ, nhiều chỗ rao bán 10.000 đ/3 trái, nghe họ rao mà sót dạ cho những bác làm nghề nông).
Đến Hà Tiên lúc 13:30 phút, tôi tìm một quán gần cuối đường Ngô Quyển để ăn tô phở. Buổi trưa nóng như thiêu, giờ này mọi người để ở yên trong nhà nên đường phố vắng vẻ. Một nhóm thanh niên có lẽ nhân viên tiếp thị của một công ty nào đó đang ngồi ăn bàn ngoài tôi, và bàn tiếp bên trong có một thanh niên cũng đang ngồi ăn. Tôi dùng xong thì nhóm thanh niên tiếp thị đã đi hết, chỉ còn người thanh niên ngồi bên trong. Khi gọi người chủ ra tính tiền (một cô gái trung niên khoảng trên 30 tuổi, có dáng vẻ như công chức nhà nước với áo quần tươm tất. Khi gọi tính tiền, tôi hỏi cô chủ quán có chỗ nào mua đô la và đồng Riel được không? Cô ta nhìn tôi, rồi chầm chậm nói, "Chú là người lạ, người ta không bán đâu!" Tôi hỏi thêm phải chăng họ sợ công an (ý tôi là sợ công an giả vào mua để bắt họ làm chuyện phi pháp là mua bán đô la không phép)? Cô ta ậm ừ không trả lời, vào lấy tiền lẻ để trả tôi. Tôi bèn lấy túi hành lý của mình, đi ra chỗ để xe định đi tiếp. Trong trường hợp không mua được thêm đô la thì dù sao tôi cũng có mấy trăm tiền chẳn (tờ 100 USD) bỏ túi rồi. Tôi mua thêm là chủ yếu thủ cho mình tiền lẻ để xài lặt vặt, vì nghe đâu bên đó người ta chỉ dùng tiền riel và USD thôi.
Tuy nhiên khi vừa lấy xe định dắt ra, cô chủ quán ăn ta gọi tôi, "Chú ơi, chú ơi, bên gần nhà có bán đó. Chú quay lại cháu mua dùm cho!" Thế là tôi lại để xe ở vị trí đậu và quay lại bàn của quán cơm, hỏi han về cách mua. Cô ta nói là nhà bên có bán đó, lúc nãy nói thế vì anh ngồi gần chú là công an phường, cháu không dám nói! Hóa ra cô ta biết nhiều hơn tôi tưởng, chẳng những có thể mua giúp tôi, mà cô ta còn bán cả đồng USD lẫn tiền riel nữa! Trời đất, tôi gặp một tay tổ về mua bán đổi chác tiền bạc vùng biên giới mà lúc nãy tôi cứ tưởng một cô gái lam lũ quê mùa chẳng biết hay màng gì đến mua bán tiền bạc! Mụ ta gom được 130 USD và một số tiền Khmer (riel) mà mụ hét là 350.000 đồng khoảng đó tiền (tôi không nhớ cụ thể số riel tôi có, nhưng tỉ giá VND-Riel thì khoảng gần 6 đồng=1 Riel, nhưng chắc mụ tính tôi tới 7 đồng, vậy tôi có khoảng tiền riel 50 ngàn). Tôi chi 3.340.000 đồng để mua hai khoản tiền này. (Khi về kiểm lại tôi còn 68 USD (23.000 đ/usd lúc mua từ mụ bán tiền, vậy còn khoảng 1.564.000 đ. Tính ra chuyến đi của tôi hết 2.436.000 đ chi tiêu trên đất Miên cho tất cả các khoản như xăng dầu, nhà nghỉ, ăn uống.... (chi bên VN không tính).
![]() | ![]() |
| Ăn tại Hà Tiên | Prek Chark, cửa khẩu sang Hà Tiên từ Kampuchia |
Thủ tục sang Miên
Tôi cứ chạy thẳng ngang chốt đầu, không ai nói gì. Tôi chạy đến căn nhà chính bên trong (là nơi làm thủ tục), có hai công an cửa khẩu ngồi đó nhưng chẳng màng hỏi tôi đi đâu. Tôi tự hỏi nếu tôi chạy luôn sang phía bên kia (phía Campuchia) liệu anh ta vẫn nói chuyện riêng và lơ luôn cho tôi đi không? Tôi không dám làm liều, dù khi quan sát thì thấy dân Campuchia và VN chạy qua lại tự nhiên mà chẳng trình báo gì. Có lẽ họ là dân tại đây, đã quen cả mặt mũi nên công an cửa khẩu biết hết những người này và chẳng cần hỏi han gì.
Trở lại chuyện của mình, thấy chẳng ai hỏi tôi nên tôi phải hỏi họ. Tôi dẫn xe mình đến gần hai anh công an cửa khẩu đang tán gẫu và hỏi anh ta làm thủ tục sang bên kia chơi thì vào đâu? Anh ta chỉ tôi phòng nằm bên trái lối vào. Tôi dựng xe mình ở đó, đi bộ sang phòng phía anh ta chỉ thì thấy một anh ngồi ngủ gà gật trên ghế cạnh bàn làm việc. Tôi đến tăng hắng thì anh ta giật mình nhìn ra. Tôi hỏi có phải làm thủ tục ở đây không, anh ta gật đầu, và tôi đưa tiếp tờ hộ chiếu của tôi cho anh ta. Anh ta xem sơ qua, rồi hỏi tôi câu trỗng, "Đi đâu?" Tôi nói sang Kép chơi. Anh lấy mộc đóng dấu vào hộ chiếu rồi đưa lại cho tôi. Tôi cầm hộ chiếu dắt qua khỏi khu vực kiểm soát của VN để chạy sang khu vực bên Campuchia. Ở cổng đầu hai anh biên phòng của họ đang bận bịu hướng dẫn mấy xe du khách, tôi chạy tới hỏi một anh làm thủ tục sang Campuchia ở đâu? Anh ta nói, "Cái nhà bự đó" bằng tiếng Việt. Tôi theo hướng chỉ, đi vào thấy du khách tây ba lô ngồi, nằm ngổn ngang ở phòng làm việc, có vẻ như bị trục trặc giấy tờ gì đó phải chờ lâu. Mặc, tôi chỉ lo chuyện của mình, và cầm hộ chiếu đi gặp một anh ngồi ở phòng ngoài cùng, hỏi (tiếng Anh) làm thủ ở đâu? Hai anh nói chuyện với nhau rồi một anh quay qua chỉ cho tôi bàn bên phải từ ngoài nhìn vào (khi về tôi mới biết bàn phía trái ngang bàn này là làm thủ tục ra, còn anh ta là làm thủ tục vào). Tôi đến trình passport, anh ta lật xem, gán vào một tờ giấy rồi đưa một bé gái nhỏ mà tôi nghĩ chắc là con cháu gì của anh ta, chắc dẫn theo chơi tiện làm giúp anh ta. Cô bé xé đôi tờ giấy, kẹp 1 tờ vào passport, rồi đóng mộc đưa sổ lại cho anh ta, anh ta đưa tôi và nói, "Năm mươi ngàn đồng". Tôi đã nghe nói, hay đọc nhiều lần về cái khoản 50.000 đồng này. Nó là khoản thu không biên nhận, và có người khuyên là không nên đóng! (còn tôi thì đã đóng phí này trước khi ra khỏi công an cửa khẩu). Xong, tôi cầm hộ chiếu của mình định đi ra xe, thì một anh khác, ngồi phòng phía tay phải nhưng ở sâu hơn bên trong phòng, ngoắc tôi lại. Tôi đến và đưa passport, anh ta nói bằng tiếng Việt là anh ta phụ trách kiểm dịch, bảo tôi đứng trước camera để anh chụp hình (một camera mạng). Xong anh ta bảo đóng 10.000 đồng Việt Nam. Tôi lại đóng 10.000 đồng nữa cho tiền kiểm dịch này, rồi lấy passport đi ra lấy xe đi tiếp ra chốt cuối kiểm lần cuối bên ngoài, trước khi có thể chạy sâu vào đất liền Campuchia.
Tôi chạy được vài km thì dừng xe, gọi điện cho vợ tôi, vì thấy có mấy cuốc gọi nhỡ của vợ. Vả lại khi tôi đi xa vào đất Campuchia, khi hết sóng thì cũng không còn gọi gì được nên cần gọi ngay lúc này.
Vợ tôi hỏi đi đến đâu và đi với ai. Tôi nói đi một mình và sang Campuchia chơi. Vợ tôi có lẽ ngạc nhiên kêu trời, nhưng tôi thì nhanh chóng kết thúc để còn phải đi. Và đi chẳng bao lâu thì đến một ngã ba. Tôi chựng lại, nhìn không thấy bảng chỉ đường nào, nên đành chạy gần lại một nhà ngay góc ngã ba nơi có ba người đàn ông ngồi nói chuyện, tôi hỏi họ, "Phlâu na tâu Kep?" Hình như tôi nói khó nghe, ông ta hỏi lại, tôi lại nói "Tâu Kép phlâu na?" Ông ta khoát thay chỉ đường phía trái, và tôi cứ quẹo qua đó và đi tới.
![]() | ![]() |
| Nhà nuôi yến. Kompong Trach Campuchia | Tượng diêm dân, Domnak Choong-ơ |
Chạy một đoạn thì thấy phía tay phải tôi có một nhà nuôi yến, vì nó rất dễ nhận ra: kín mít bốn bề trừ những chỗ thông hơi cho chúng và phía trên cùng có cửa để chúng bay ra vào. Phía trên không nhiều chim yến đảo qua lại. Gần chỗ tôi đứng nhìn xéo vào căn nhà nuôi yến có vuông nuôi tôm, cảnh này tôi thấy nhiều ở Việt Nam mình. Sẵn đang dừng xem, tôi có chụp tấm hình chỗ này. Sau này trên đường ra cảng tôi thấy nhiều nhà chim khác, nhưng cấu trúc ở phần thông hơi có khác nhà này (nhà này giống phía bên VN mình, với hàng lỗ thông hơi tròn hai bên tường). Các nhà nuôi chim khác cũng tường kín bốn phía, nhưng thông hơn bằng tấm xi măng đặt dày như cửa lá sách. Có những căn rất lớn, đã chuyển từ nhà thường thành nhà nuôi chim ở các tầng trên bằng cách biến đổi chỗ thông hơi cho nhà như thế.
Đường xanh (đường 1332) là đường mới có, đường cũ (đường 33) sang Kampot phải qua Kompong Trach
Đi một đoạn nữa thì đến khu ruộng muối, một trong những đặc điểm ngành nghề của tỉnh này. Điều này dễ thấy khi ở đầu đường rẻ vào đường sang cửa khẩu Xà Xía này, một ngã ba có tên là Domnak Chong-eu. Tại đây có một biểu tượng người làm muối, giống như một biểu tượng tương tự được đặt tại tỉnh Kampot. Chỗ này là chỗ đường 1332 kết thúc để nối vào đường 33, là đường từ Kampot đến cửa khẩu Xà Xía biên giới với VN, nhưng đi qua Kompong Trach. Sau khi xem kỹ lại tôi mới nhớ là trước đây khi sang Kampuchia, tôi đi theo đường đến Kompong Trach trước rồi mới đến Kampot, con đường này có tên là đường 33, còn đường 1332 có lẽ làm sau này, rút ngắn đường từ Xà Xía sang Kampot nhiều vì nó như đi bằng cạnh huyền, trong khi đường qua ngã Kompond Trach như đi hai cạnh kia của tam giác. Một chút lưu ý của bạn ở đây để nhớ các đường này trên đường sang Kompongsom sẽ có ích cho bạn sau này: từ cửa khẩu biên giới Xà Xia sang, bạn đi đường 33 một quãng ngắn thì đến ngã ba, bạn quẹo phải thì đi đường 33, quẹo trái thì đi đường 1332 (tên đường này chỉ là đường 33 với số 1 đầu và 2 cuối!), để rồi ra lại 33 (tức ngã ba Dom-nak Chong-eu đã nói ở trên) cho đến Kép (nếu đi Kép rẻ trái), hoặc Kampot (nếu đi Campot, rẻ phải). Đường từ Kampot xuống tới ngã ba Preynup là Quốc lộ 3, còn từ đó xuống cảng, (hoặc ngược lên Phnum Penh) là đường số 4. Chỉ nhớ nguyên tắc nhỏ này, bạn sẽ đi ổn miền Nam Campuchia!
Kép, khu nghỉ dưỡng yên tĩnh
Trước khi cảng Kompongsom được xây dựng (1957-1960), Campuchia chỉ có bãi biển nghỉ mát là Kép. Những khu nhà xưa từ thuở ban đầu (thời Pháp thuộc) một số vẫn còn, một số bị bỏ hoang và du khách dễ dàng thấy, xem tận mắt. Những cảnh bể dâu, hoang phế này là hậu quả của những biến đổi chính trị và hậu quả của chiến tranh, và hậu quả của một chế độ thuộc loại khủng khiếp nhất trong lịch sử Khmer, hay của nhân loại: chế độ Pon Pot. Tôi có mặt trên đất nước này ngay từ đầu năm 1979 sau khi quân đội Việt Nam đã đánh bật quân đội Pon Pot vào rừng núi hay sang Thái Lan. Điểm đầu tiên tôi đến là Sre Ampil (Ruộng Muối) thuộc Koh Kong. Nhà cửa hai bên đường không còn gì, những căn nhà gạch cũ chỏng vơ vách, cột, và bị đập phá tan hoang. Khi tôi sang, chỉ thấy đoàn người đói, rách lủ khủ từ rừng sâu trở về nhà, mà có nhà nào còn đâu? Họ phải làm lại từ đầu trong đói rách như thế! Ở Veal Rinh sau này có một trại trẻ mồ côi. Đó là những đứa bé lạc mất cha mẹ, người thân, đói rách lang thang được gom lại và nuôi dưỡng ở đó bằng tiền bạc viện trợ. Trong số các bé đó, tôi có biết một số em, như à Thot, à Dol. Sau này một số được người thân nhận về (À Thót được nhận về trước, còn A Dol vẫn còn ở trại cho đến ngày tôi rời khỏi Veal Rinh về Komponspeu). Chúng là nạn nhân của cuộc cách mạng điên khùng nhất của loài người dưới sự lãnh đạo của Pon Pot!
Đường xanh (đường 1332) là đường mới có, đường cũ (đường 33) sang Kampot phải qua Kompong Trach
Đi một đoạn nữa thì đến khu ruộng muối, một trong những đặc điểm ngành nghề của tỉnh này. Điều này dễ thấy khi ở đầu đường rẻ vào đường sang cửa khẩu Xà Xía này, một ngã ba có tên là Domnak Chong-eu. Tại đây có một biểu tượng người làm muối, giống như một biểu tượng tương tự được đặt tại tỉnh Kampot. Chỗ này là chỗ đường 1332 kết thúc để nối vào đường 33, là đường từ Kampot đến cửa khẩu Xà Xía biên giới với VN, nhưng đi qua Kompong Trach. Sau khi xem kỹ lại tôi mới nhớ là trước đây khi sang Kampuchia, tôi đi theo đường đến Kompong Trach trước rồi mới đến Kampot, con đường này có tên là đường 33, còn đường 1332 có lẽ làm sau này, rút ngắn đường từ Xà Xía sang Kampot nhiều vì nó như đi bằng cạnh huyền, trong khi đường qua ngã Kompond Trach như đi hai cạnh kia của tam giác. Một chút lưu ý của bạn ở đây để nhớ các đường này trên đường sang Kompongsom sẽ có ích cho bạn sau này: từ cửa khẩu biên giới Xà Xia sang, bạn đi đường 33 một quãng ngắn thì đến ngã ba, bạn quẹo phải thì đi đường 33, quẹo trái thì đi đường 1332 (tên đường này chỉ là đường 33 với số 1 đầu và 2 cuối!), để rồi ra lại 33 (tức ngã ba Dom-nak Chong-eu đã nói ở trên) cho đến Kép (nếu đi Kép rẻ trái), hoặc Kampot (nếu đi Campot, rẻ phải). Đường từ Kampot xuống tới ngã ba Preynup là Quốc lộ 3, còn từ đó xuống cảng, (hoặc ngược lên Phnum Penh) là đường số 4. Chỉ nhớ nguyên tắc nhỏ này, bạn sẽ đi ổn miền Nam Campuchia!
Kép, khu nghỉ dưỡng yên tĩnh
Trước khi cảng Kompongsom được xây dựng (1957-1960), Campuchia chỉ có bãi biển nghỉ mát là Kép. Những khu nhà xưa từ thuở ban đầu (thời Pháp thuộc) một số vẫn còn, một số bị bỏ hoang và du khách dễ dàng thấy, xem tận mắt. Những cảnh bể dâu, hoang phế này là hậu quả của những biến đổi chính trị và hậu quả của chiến tranh, và hậu quả của một chế độ thuộc loại khủng khiếp nhất trong lịch sử Khmer, hay của nhân loại: chế độ Pon Pot. Tôi có mặt trên đất nước này ngay từ đầu năm 1979 sau khi quân đội Việt Nam đã đánh bật quân đội Pon Pot vào rừng núi hay sang Thái Lan. Điểm đầu tiên tôi đến là Sre Ampil (Ruộng Muối) thuộc Koh Kong. Nhà cửa hai bên đường không còn gì, những căn nhà gạch cũ chỏng vơ vách, cột, và bị đập phá tan hoang. Khi tôi sang, chỉ thấy đoàn người đói, rách lủ khủ từ rừng sâu trở về nhà, mà có nhà nào còn đâu? Họ phải làm lại từ đầu trong đói rách như thế! Ở Veal Rinh sau này có một trại trẻ mồ côi. Đó là những đứa bé lạc mất cha mẹ, người thân, đói rách lang thang được gom lại và nuôi dưỡng ở đó bằng tiền bạc viện trợ. Trong số các bé đó, tôi có biết một số em, như à Thot, à Dol. Sau này một số được người thân nhận về (À Thót được nhận về trước, còn A Dol vẫn còn ở trại cho đến ngày tôi rời khỏi Veal Rinh về Komponspeu). Chúng là nạn nhân của cuộc cách mạng điên khùng nhất của loài người dưới sự lãnh đạo của Pon Pot!

Một trong những căn nhà bỏ hoang ở Kep. Chủ xưa nay ở đâu?
Tôi đã chạy xe lên xuống Kep ngay trong chiều đầu tiên, vừa để tìm chỗ nghĩ, vừa để xem. Nhiều căn nhà xưa vẫn còn hàng rào bao bọc, căn nhà bốn vách chơ vơ, tường thì người ta vẽ, viết đủ thứ. Tôi tự hỏi chẳng biết chủ nhà đâu mà vẫn để cảnh hoang tàn này mấy mươi năm qua? Họ đã đi nước ngoài? Hay chết hết dưới thời Pol Pot? Nhớ đã từng có lần đứng trước căn nhà hoang ở huyện Phnum Penh, sát Pochentong, nhìn lên vách nhà có dòng chữ nguyệch ngoạt viết bằng than,
Âu me nâu ena? Sua Minh Khim.
Câu này tôi đã ghi lại trong một bài viết của mình tại đây (may quá, tôi còn ghi lại nó, và lấy từ tập nhật ký đã mất của tôi, do được chép lại trước khi nó mất).
Mỗi căn biệt thự hoang của Kep có thể có một lịch sử bi ai tương tự như câu chuyện cái nhà hoang kia, và biết bao nhiêu chuyện khác mà trên đường tôi gặp phải vào năm 1979. CÂu chuyện của à Đây, à Đê, mẹ và gia đình của chúng phải sống chung với chúng tôi một thời gian cũng là một câu chuyện. Tôi chưa lần nào nhắc lại chuyện này, và hơn 30 năm qua, tôi bổng quên cả tên người đàn bà này...À Ravy là tên của chị. Chị là bạn học của một sĩ quan công tác trong đơn vị chúng tôi (một Việt kiều Campuchia). Trên đường công tác anh tình cờ phát hiện bạn gái từng học chung với mình (ở Siam Riep, Kampuchia). Trong cảnh tan tác của chiến tranh khi Pon Pot bị lật nhào, chị lủ khủ dắt con tìm về nhà. Nhưng nhà chị, nói theo à Đây, bây buôn choan, miên lan touch na pu De, đứa bé tự hào nói, chỉ còn là căn nhà hoang không ở được. Anh báo trường hợp của chị cho thủ trưởng đơn vị tôi, và đơn vị chấp nhận cho chị ta tá túc với tư cách như một người phụ giúp việc bếp của nhà ăn. Một phụ nữ xưa giàu sang với nhà cửa chừng ấy, có người hầu hạ mà nay làm việc như thế có được không? Pon Pot đã làm nhiều người thành thị từ không biết gì về cày cấy nay phải làm, nếu không họ đối diện cái chết. Chị phải biết làm công việc đồng áng, và từng sống qua thời kỳ đen tối này, thì việc phụ giúp bếp núc này chỉ là chuyện nhỏ. Chị đã sống ở đó đến khi tôi rời quân ngũ, và chẳng biết sau này có tìm gặp lại người thân nào để có thể hòa mình vào cuộc sống bình thường chăng?
Đến Kep làm tôi liên tưởng đến phố xá tan hoang tại huyện Phnum Pênh nơi tôi phải nằm viện cả tuần, và từng lần mò vào những ngôi nhà hoang đó để bắt gặp câu thót lòng viết bằng tiếng Khmer với than bếp! Và ngày nay, nơi Kép nhà, nhiều ngôi nhà hoang vẫn còn nằm dưới mưa nắng bao nhiêu thời gian, thời kỳ rồi mà vẫn còn trơ trơ cảnh hoang phế chiến tranh. Điều này thật là một điều gợi nhiều cảm nghĩ cho những ai có tính hoài cổ như tôi chẳng hạn...
Nhà trọ ở Kép
Bỏ qua hồi tưởng chuyện lung tung về chuyện ngày xưa, nay xin quay lại chuyện chính. Sau khi lên xuống đường chính của Kép, tôi tự nhủ phải tìm chỗ nghỉ ngơi cái đã, vì trời cũng đã muộn rồi. Chạy đến một đoạn đồi khá xa bãi biển, tôi gặp một tấm biển có ghi là The Boat Guest House. Tôi nhớ mức phí của nhà khách này ghi là từ 10 đến 35 USD/ngày, tức thuộc loại thường thường có thể ở mà không ngại cháy túi, nên ghé vào. Một cô gái Khmer và một ông Tây mặc quần short áo thun đang đứng. Tôi hỏi cô gái còn phòng ở không, thì cô gật đầu. Tôi hỏi về giá, cô ta hỏi tôi đi một mình phải không, và tôi xác nhận. Cô ta bèn báo cho ông Tây kia, và quay nói với tôi, "Six dollars! Do you want to check the room". Tôi có đi theo cô ta để xem cái phòng, vốn ngang với phòng ông chủ (tôi đoán thế). Tôi không ngạc nhiên về việc ông tây làm chủ nhà khách, vì đã đọc ở mạng có nhiều ông tây sang đây mở quán, mở cơ sở làm ăn như nhà hàng, du lịch, hay mở nhà nghỉ như ông này. Điều này làm cho Campuchia rất khác so với Việt Nam, nó có vẻ là một xã hội mở hơn bên mình, dù tôi biết ở biển miền Trung cũng rất nhiều người nước ngoài mở nhà hàng, hay kinh doanh gì đó (bán bánh chẳng hạn). Kép không nhiều khách du lịch đúng như nhận xét trên mạng, nhưng cũng có nhiều du khách ba lô phương Tây tới lui hơn hẳn điểm cuối cùng đất nước mình là Hà Tiên chẳng hạn (tôi ngồi cả buổi chẳng thấy thằng Tây ba lô nào!), và nhà nghỉ tôi chọn hóa ra là một trong những nơi có khách tây tá túc nhiều. Hôm sau tính tiền, cô gái chỉ tôi gặp anh tây chủ nhà. Khi ông loay hoay mở máy và in hóa đơn, tôi có hỏi ông có phải người Pháp không, ông ta xác nhận đúng, và nói tên là Louis. (Khi xem trên card thì thấy anh ta có tên là Dominique, vậy tên đủ anh ta có lẽ là Louis Dominique?). Còn cô tiếp tân người Khmer thì có tên là Davy. Các bạn nếu đi chơi bụi như tôi thì có thể nghỉ tại đây, nó có không khí gia đình rất khác với những nhà trọ ồn ào khác. Và không gian của nó rất yên tĩnh: trong khu vườn, nhìn qua đồi cây mà sáng ra vang tiếng chim rừng hót (sáng hôm sau khi tập thể dục tôi mới phát hiện ra chuyện này!). Do mệt mỏi, chiều đó tôi không thể đi thám hiểm chợ cua mà người ta nói ra đó mua và ăn luôn tại chỗ thì rất tuyệt! Có lẽ dành cho lần nào đó đi ít nhất là 2 người trở lên thì chuyện thưởng thức này mới có ý nghĩa, vì như ông bà nói, trà tam, rượu tứ mà!

The Boat Guest House (nằm sâu trong hàng cây sát lộ), nhà nghỉ lấy tôi 6 USD/đêm
Nhận chỗ xong, tôi liền lấy xe đi ra. Nhìn phòng mình chẳng có khóa gì cả, tôi cẩn thận hỏi cô tiếp tân liệu đồ đạc tôi để trong phòng có OK không, thì được cô gật đầu dứt khoát. (Nhìn phòng ông chủ, tôi thấy lủ khủ túi, ba lô.. thì nghĩ có lẽ của các khách gửi khi họ đi ra ngoài chơi. Sau này tôi tự trách mình sao không làm thế cho an tâm?)
Tôi chạy ngược lại đường đã đi ban chiều, đi qua tượng thiếu nữ, qua tượng con ghẹ (cua) ngoài biển, qua cả chỗ bán vé ra đảo, nghĩa là gần hết chiều dài của Kép mà vẫn không thấy chỗ nào ăn. Có môt đoạn có nhiều lều lợp lá, bên dưới có vạc ngồi và rất nhiều võng, tôi nghĩ là chỗ cho du khách thuê để nghỉ, chơi khi tắm biển tại đây. Nói chung ghé chỗ như thế thì không hợp với đi một mình như tôi, nên tôi cứ chạy tới mãi một hồi thì đến một quán thấy có người ăn (quán vắng vẻ quá thì ngại, tâm lý chung mà). Tôi ghé vào và hỏi có gì ăn bằng tiếng Khmer, Miên ây hôp tê?. Người phụ nữ trông quán, một người điển hình của dân tộc Khmer, da ngâm đen, gầy, chắc đã quá ngũ tuần, trả lời, "Miên bai" (Có cơm). Tôi hỏi ăn với gì (hôp chia mui ây?), thì chị ta giở tấm vải che ruồi lên, bên dưới là các loại cá, khô... cho tôi xem. Với những món đó, chỉ có cách là chiên hoặc nướng gì đó ăn cơm sao kham, tôi bèn hỏi còn cái món này, vừa chỉ tay vào hai chữ Khmer đầu của chữ này បបរស (bobor sor) mà tôi đọc không hiểu nghĩa. Bà ta nhoẽn miệng cười nói là bobo sor. Tôi sực nhớ ngay, bobo là cháu, sor là màu trắng, nói tóm lại là cháo trắng. Tôi ừ ngay, bảo làm cho một tô. Và hỏi ăn với gì, thì bà ta chỉ trứng vịt. Món này chỉ có thể là hột vịt mặn thôi, kiểu người Hoa mà. Tôi lại ok lần nữa.
![]() | ![]() |
| S'rey S'at tại Kép | Con cua tại Kép |
Món cháo nóng hổi ăn với hột vịt mặn làm tôi tỉnh táo, nhất là với hai lon bia Angkor nữa! (tôi gọi thêm 2 hột vịt lộn để uống bia). Tôi dùng xong bữa chiều thì tính tiền hết 12.000 riel (3 USD). Đã muộn, tôi lên xe quày về, và dọc đường có dừng chụp vài cảnh Kép khi đêm xuống, trong đó có cảnh con cua ngoài biển.
Ăn sáng ở Kampốt
Sáng ra, năm giờ tôi mở cửa định ra tập thể dục. Nhà cửa tối om, và đường phố cũng thế. Tôi đành thụt vào phòng, ngồi ghi chép chuyện hôm qua, đến khoảng năm giờ rưỡi, trời vừa hửng sảng, tôi đi ra lộ và bắt đầu chạy. Chim hót líu lo vang trên những cây rừng đối diện nhà trọ. Tôi chạy về phía Kampot, rồi ngược lại phía xuống biển cho đến khi đến bãi tắm thì dừng, và cởi giày, áo thun nhảy xuống biển tắm. Biển vắng lặng chứ không ồn ào và đông người như hôm qua, và tắm trong cảnh này mới là tuyệt!
Tắm xong thì quày lên và chạy về nhà, trời vẫn còn sớm (có lẽ tôi chạy tổng cộng chỉ hơn 2 km, là điều ít khi tôi làm, vì thường tôi chạy gần cả chục km). Tôi bước vào sân và vào nhà. Anh Tây chủ nhà ngồi ở quày đối diện phòng của ông, tức sát vách phòng tôi, giơ tay chào. Tôi đáp lại, "G'morning sir." rồi đi tuốt vào phòng tắm rửa, thu xếp chuẩn bị cho một ngày đi tiếp theo- với kế hoạch sơ sơ cho ngày mới là ăn sáng tại Kampot, đi núi Pô-kô, xong xuống núi và chạy thẳng về Kompongsom (Sihanouk Ville).
Khi tôi quảy ba lô lại bàn cô tiếp tân định làm thủ tục trả phòng thì cô gái chỉ lại ông chủ, vốn đang ngồi trong phòng ngang phòng tôi. Tôi tấp qua cửa sổ và nói trả phòng. Ông ta loai hoay gõ máy tính để in tờ hóa đơn, với số tiền y như đã nói với tôi hôm qua là 6 USD. Tôi trả tiền xong, bỏ tấm hóa đơn vào bị ra lấy xe để chạy về Kampot.
Núi Xà Xía
Kép cách Kampot chẳng bao xa, và sau khi qua một đoàn đường đang sửa đầy bụi một một quãng thì đường này nhập lại vào đường 33 để vào Kampot. Từ chỗ rẻ để về Kampot đi khoảng hơn 1 km, tôi gặp bảng ghi là lối vào khu tham quan Xà Xía. Xà Xía là địa danh, không hiểu có phải là tên xưa của vùng này không, nhưng rõ ràng nó còn để dấu ấn tận đến cửa khẩu vào Việt Nam, vì cửa khẩu này còn gọi là cửa khẩu Xà Xía. Tôi đã vào để xem khu tham quan này ra sao. Đó là một đồi nhỏ, có ngôi chùa ở đỉnh, và có vài hang động, gọi là Hang Dơi, hang Voi... Ở sân trước đường lên có là bãi đậu xe an toàn, và có nhiều người Khmer tập trung sinh hoạt gì đó. Thấy người lạ ghé, họ nhìn thân thiện. Tôi xem qua ngôi chùa, rồi lội vào hang, có cửa hang nhỏ nhưng vào trong thì mở rộng ra. Giống như ở VN, người ta cũng dựng tượng, cũng thờ cúng, nhưng có lẽ ở mức độ ít hơn kiểu tín ngưỡng của Việt Nam mình. Khi lên đỉnh và sau khi xem xong hang, tôi có ghé qua ngôi nhà bên phải chùa, cũng có thể là một chùa khác cũng nên, nhưng qua kiến trúc không đặc thù, tôi lại nghĩ có thể là nhà người trông chùa, một thứ ông từ như bên Việt Nam mình. Một người từ nhà đi ra. Tôi chào bằng tiếng Khmer, rồi rảo một vòng rất nhanh. Có lẽ thấy tôi nói tiếng Khmer bập bõm, ông ta biết tôi không phải dân Khmer, nên hỏi tôi có phải Tàu không? Tôi nói tôi là người Việt Nam, rồi từ giả xuống núi quày ra tiếp tục về Kampot.
![]() | ![]() |
| Chùa Xà Xía | Trong hang Xà Xía |
Tron các món ăn có lẽ hủ tiếu Việt Nam và Khmer không khác gì nhau. Thực sự, món này gốc của người Hoa, nên dù ở Campuchia, Việt Nam, hay Thái Lan, nơi có ảnh hưởng nhiều bởi người Hoa đều có món hủ tiếu này. Khi tính tiền thì người ta lấy 3 USD cho buổi sáng này. Tôi hỏi cậu chạy bàn "Num băng nâu ena?", cậu ta lắc đầu tỏ vẻ không hiểu. Tôi chuyển sang tiếng Anh, "Bread, where can I buy it?" Lại lắc đầu. Tôi lại cố nói Num băng, num băng tinh nâu e-na? Một cậu khác chạy lại, có lẽ tinh ý nhận ra câu mà tôi tin là do phát âm không đúng đã cản trở sự hiểu biết của nhau. Cậu thanh niên tươi cười chỉ tôi ở đường sang cầu có chỗ bán bánh. Anh ta nói số nhà 999. Ra là thế.
Tôi định mua vài vài ổ bánh mì làm lương thực mang theo để đi Pokor, phòng khi lên đỉnh núi đó mà không có bán gì thì lôi đồ này ra dùng. Chai nước thì tôi thủ sẵn trong túi đồ khi sáng, nên nếu có bánh rồi thì không thể thiếu gì nên không thể đói được (cái này tôi đọc ở mạng nói là ở đỉnh Pokor đồ ăn hạn chế, nên tự mang theo).
Trên đỉnh Pokor
Sau khi rời Kampot tôi trực chỉ theo hướng đến ngã ba Veal Rinh mà trước đây tôi đã từng đi, ở (tôi sống tại Veal Rinh hàng năm trời). Ngày ấy đất nước này vừa giành lại từ tay quân Pon Pot, tuy vậy những toán nhỏ lính Pon Pot cũng thỉnh thoảng phục kích xe bộ đội VN. Mặc dù chuyện này lúc đó ngày càng hiếm, vì đa số người dân sau mấy năm sống dưới chế độ khắc nghiệt và diệt chủng đó, họ rất oán ghét chế độ Pon Pot, và hân hoan đón vận hội mới, rất thân thiện khi gặp bộ đội Việt Nam. Dù vậy, mỗi khi di chuyển trên đường sá, chúng tôi đều trang bị đầy đủ vũ khí, và luôn giữ hành trình của mình, sao cho điểm đi và điểm đến được thực hiện nhanh và an toàn. Có nghĩa là khi đã ngồi xe rồi từ Hà Tiên sang hay từ Veal Rinh về, xe chạy một mạch không dừng ở đâu. Đường lúc đó rất xấu, tung lớp bụi mù mịt, tôi chỉ nghe bác tài nói nào là ngã ba Trach, hay đang đi vào Kampot, hay gấn đến ngã ba Veal Rinh rồi.. cho đến khi xe dừng trước doanh trại thì ung dung quảy ba lô, súng ống vào doanh trại nghỉ. Ngày ấy chúng tôi nào nghĩ đến phong cảnh, phố sá, mà nghĩ nhiều đến an toàn, đến cái chết hay những nguy hiểm đang rình mò mình, bởi vì chúng tôi là lính mà!
Vậy là sau gần 40 năm, tôi một mình ung dung đi lại trên con đường xưa, trong cảnh thanh bình của xứ sở Chùa Tháp đang trở mình, trong dòng du khách nhộn nhịp đến để khám phá và tìm hiểu phong cảnh, phong tục, văn hóa của một nước vốn trước giờ vẫn rất xa xôi cách trở với họ. Trên đường đi tôi vẫn thấy rất nhiều tây ba lô phóng xe hai bánh vun vút từ hướng Komponsom về Kam Pot. Thỉnh thoảng trong số rất nhiều du khách trẻ này, có những cặp vợ chồng già, hay đôi khi chỉ một mình, họ đi khắp các nẻo đường, thôn xóm, thăm thú những chùa chiền, động, hang, cánh đồng, bãi biển.

Cổng vào khu Resort Bokor
Cổng vào Poko cách Kampot chỉ chừng 8 km. Khi đến chỗ rẻ vào có thể thấy cái cổng to đùng, nơi xe du lịch và xe mo-tô đang sắp hàng mua vé vào. Đã đọc trước là vé cho xe mô tô là 2000 riel, tôi lấy ra thủ sẵn đúng số tiền riel này và nhét nó ở miệng ba lô, khi chạy tới ngang người bán vé thì thò tay lấy đưa họ là được tấm vé ngay. Chỉ chờ chút ít trong dòng xe hơi và xe hai bánh, tôi đã mua được tấm vé nhựa bỏ vào túi mình và bắt đầu chạy về hướng lên đỉnh.
Đường lên Pokor cũng có nhiều du khách tây, nhưng đa số vẫn là khách Campuchia đi vãng cảnh nhân ngày nghỉ Tết của họ. Tôi gặp nhiều Tây ba lô chạy xe mô tô vùn vụt lên xuống núi này, và có đoạn tôi gặp cả anh tây đang thả dốc bằng xe đạp (mách bạn, xe đua có thể lên đến đỉnh Pokor có độ cao trên 1000 mét không khó khăn gì cả, theo một trang web tôi đã đọc, và thực tế cảnh anh tây xuống núi tôi đã chứng kiến trong lần đi của mình).
Trước khi đi tôi đã có tham khảo tuyến đường này, nó cong queo như thường thấy ở các đường lên núi. Đáng nói là đường rất tốt cho mọi phương tiện, vì chủ đầu tư cúa nó (Sokimex, một công ty kinh doanh nhiều loại, và nổi tiếng cả ở ngành xăng dầu tại Campuchia) là nhà đầu tư vào dự án khách sạn, sòng bạc duy nhất trên đỉnh núi này, với dự án tỷ đô gọi là Thansur Bokor Resort. Đây là một dự án nhiều tham vọng, gồm sòng bạc, khách sạn năm sao, khu dân cư 100.000 dân và ... nhiều thứ khác. Có ý kiến ủng hộ, nhưng cũng có ý kiến là việc xây dựng này đã phá vỡ cảnh quan và nét cổ kính của kiến trúc xưa của người Pháp, dù thời gian, chiến tranh và sự hoang phế đã đã làm cho chúng trở nên vô dụng. (Trong lúc tham quan thác nước Popokvil tôi có đi ngang một trại rau màu của Thansur ghi là trại rau sinh thái, trong khi những công trình của họ có lẽ là một nhát búa to đập nát thiên nhiên tại đây! Hãy đọc một ý kiến của một người dân Campuchia đăng trên một website của họ tại liên kết sau: https://www.camboguide.com/cambodia-destinations/kampot-kep/bokor-was-a-national-park-now-its-ruined/).
Nếu bạn quan tâm thêm đến ý nghĩa của cái tên khu resort duy nhất trên cao này của Campuchia, thì đây, nó viết bằng chữ Khmer thế này ឋានសួគ៌បូកគោ (thansur Bokor), và có nghĩa là thiên đường Bokor (thansur là thiên đường). Khi có mặt ở đây, bạn sẽ thấy cái thiên đường dở dang này góp phần tàn phá cảnh quan của cao nguyên Bokor nhiều hơn đóng góp của nó để điểm xuyết thêm cho một nơi có khí hậu mát mẻ hiếm hoi miền Nam nước này nhờ độ cao khoảng 1000 mét của nó. Điển hình nhất là những vạt cây họ thông, tùng còn sót lại nằm dịch xa ra ngoài rìa các khu xây dựng này, và bạn có thể thấy nếu đi cung đường để tham quan cảnh 100 Thửa Ruộng (Veal Sre Mui Roi, 100 Rice Fields) để đến chùa Sompov Bram (Năm Chiếc Thuyền, đọc là Sòmpâu bram) rồi vòng lại khách sạn Thansur. Bạn sẽ dễ dàng thấy là khu đất lớn trọc cây này chắc hẳn hồi khoảng năm 1917, là năm người Pháp phát hiện cao nguyên này và bắt đầu công cuộc xây khu nghỉ dưỡng của họ, thì vùng này phải phủ đầy những cây họ thông, tùng đó!
Điều nổi bật ở đoạn cuối cùng đường lên đỉnh núi này là một tượng to (cao 25 m), đặt ở đỉnh cao nhất của núi Pokor (1075 met), nằm ngay sát đường lên các công trình là điểm tham quan tại đỉnh Pokor. Nó thu hút hết sự chú ý, làm lu mờ đi Tòa Nhà Đen, là biệt thự của Hoàng gia xưa kia, nay là căn nhà bỏ hoang. Tượng này mới được xây sau này bởi cùng công ty đã đầu tư vào dự án Thansur, dựa trên truyền thuyết của người Khmer vùng ven biển về nhân vật gọi là Luk Yeay Mau. Luk Yeay có nghĩa là Bà, còn Mau là tên riêng, vậy tên này có nghĩa là Bà Mau (hay cũng viết là Mao). Chúng ta cứ nghĩ đó là một vị phật bà đầy quyền năng và đem lại những điều tốt lành cho mọi người, như Phật Quan Âm đối với người Việt bên mình vậy. Tóm lại, nó là một thứ Phật Bà Quan Âm của người Khmer vậy. Tiện đây cũng nói hình cô gái trên biển Kép tôi vừa xem hôm qua, tượng này, và nhiều tượng Lok Yeay Mao khác những ở các tỉnh ven biển Campuchia đều có chung nguồn gốc là truyền thuyết về Lok Yiay Mau chuyên cứu độ người này. Buồn cười là tượng tại Kép được dân hay gọi là sray s'at (ស្រីស្អាត, cô gái đẹp) dễ làm ta mất liên tưởng đến gốc tích và ý nghĩa thật sự của tượng đó.
![]() | ![]() | ![]() |
| Thansur Resort | Khách sạn cũ | Chùa 5 Thuyền |
![]() | ![]() |
| 100 Cánh Đồng | Thác Mây Cuộn |
Sau khi qua khỏi đoạn này ít lâu, tôi lại qua một đường rẻ khác bên tay mặt, có chốt gác và cổng chắn. Có lẽ ngừơi ta lại bán vé vào khu tham quan nào đó? Thấy có ghi 500 Rice Fields, tôi nghĩ có thể là một khu lớn hơn khu 100 Rice Fields chăng? Đứng tần ngần nửa muốn vào, nửa không, cuối cùng tôi đã không vào, vì e thời gian của tôi cũng hạn hẹp, không thể tham quan hết! Và nếu nó chỉ là một khu khác giống khu 100 Rice Fields, chỉ khác ở qui mô thì vào đó làm gì?
Tôi ra chạy tiếp nữa con đường này xem nó dẫn đến những gì. Vài đoạn còn rừng, có chỗ là rừng thông, nhưng không được cao lắm. Tôi nghĩ trước đây khi Pháp lên khai hoang lần đầu để xây các nhà nghỉ mát, hẳn đây là một rừng thông mênh mông, mà giờ này chỉ là một khu rộng lớn không còn cây hay quá ít cây. Điều này làm chúng ta nghĩ nó là vùng đất trọc, bạc màu và thiếu sự sống. Cuối cùng tôi lại đến một khu vực đang có nhiều công trình, mà tôi nghĩ có lẽ sẽ là khu dân cư 100.000 dân theo đề án khai thác đỉnh Pokor này của công ty Thansur này? Đã có rất nhiều dãy nhà xây xong, nhưng ngoài số đông du khách, tôi không hiểu những người kia có ai là dân đã chọn nơi này để sống? Tôi chẳng quan tâm mấy chuyện này, duy bên tay phải tôi là đường lên một chùa xưa, một điểm tham quan chính trong các điểm đã nói. Tôi leo lên một dốc thoai thoải, ngắn nhìn rõ mặt trước, sau của chùa. Chính ở mặt sau ta có thể đứng nhìn vách dốc đứng phía Nam của núi Pokor. Vách này, nếu bạn cũng đã tham quan khách sạn/casino cũ từ mặt sau cũng đã thấy nó, và bãi biển ngoài xa của tỉnh Kampot, và ngoài xa hơn là đảo Phú Quốc của Việt Nam.
Sau khi xem xong, tôi lấy xe chạy tiếp đường ngang phía trước các dãy nhà mới, đi một hồi lại thấy mình đảo về khách sạn/ casino mới là Thansur! Tôi tưởng mình đã lầm, nhưng rút lại đoạn đường tôi đi hình tròn mà điểm cuối lại vòng về khách sạn mới. Thôi, đã đủ cho lần xem núi Pokor này, bây giờ trực chỉ xuống núi.
Một phần trong những cung dường trên đỉnh Pokor
Ngã ba Veal Rinh
Tôi chỉ xin nói ngắn gọn về ngã ba này. Trước đây thuở còn tại ngũ, khi người ta đưa tôi sang bên này thì điểm trú quân đầu tiên của tôi là Sre Ampil, thuộc Ruộng Muối, tỉnh Koh Kong. Đó là vào khoảng giữa năm 1979, khi Pon Pot đã hoàn toàn tan rã, và dòng người bắt đầu lũ lượt kéo về quê hương trong một trận đói kinh hoàng nhất mà dân này phải trãi qua. Khi đó chiều chiều tôi đứng trước doanh trại mình, nằm trên một sườn đồi thấp để nhìn dòng người bất tận đi bộ ngang tôi. Họ có thể tìm về Phnum Penh, hay bất kỳ tỉnh nào thuộc Campuchia này. Không có xe cộ, họ chỉ có 2 lựa chọn: một là đi bộ, hai là, và hiếm khi được, quá giang xe của bộ đội Việt Nam. Tôi từng chứng kiến những người dân mặc cùng kiểu bộ đồ đen (kiểu đồng phục thời Pon Pot) đói khát đi mãi, nhiều bé mà chỉ cái nhìn là biết được độ suy dinh dưỡng của chúng.
Sau thời gian đó, tôi về Veal Rinh này, và ở đây khá lâu. Doanh trại tôi kế bên UB Xã về phía tay phải, còn bên tay trái là một dãy nhà cấp bốn, là các phòng ban của Hậu cần, và tất cả đều nhìn ra Quốc lộ 4, đoạn săp giao nhau với đường 3 từ Kampot sang (ngã ba Veal Rinh). Chính bên kia đường là bệnh viện của Quân khu, gọi là Đội Điều Trị 3, chiếm một dãy nhà dài. Từ trại tôi nhìn ra Quốc lộ là một khoảng đất trống chừng trên trăm mét đến đường không có nhà cửa của dân, còn bên kia đường là ĐĐT 3. Từ văn phòng tôi nhìn thấy đủ vách núi Pokor lúc nào cũng xanh thẩm nếu là ngày tốt, hoặc quyện trong mây mù nếu là ngày nhiều mây, hay xám xịt nếu là ngày mưa. Pokor trong ký ức tôi là thế.
Vậy trong chuyến này nhất định tôi phải xem xem chỗ xưa ấy sau mấy mươi năm có còn không?
Và tôi quá thất vọng! Không chút dấu vết gì có thể nhìn ra. Hình như tên ngã ba Veal Rinh không còn, và huyện Prey Nup đã dời về đây, vì ở chỗ xưa là ủy ban xã của bạn, nay là dãy ba nhà là trụ sở các ban bệ của huyện Prey Nup. Tôi nhìn bên phải dãy đó, không thể nhận ra căn nhà cũ, có lẽ người ta đã đập bỏ? Nhiều căn nhà khác nằm rải rác ở khoảng trước, sau và bên phải khu đó, không còn nhìn thấy quốc lộ nữa. Cả khu đất trống trước có giếng chung, nay cũng bị nhỏ lại với các nhà cửa này. Tôi cứ đi lòng vòng khu vực đó tìm xem cái giếng xưa còn không, vì tôi nghĩ chắc người ta không khi nào phá bỏ giếng nước. Đi một ngồi nhìn ra một cái giếng có người phụ nữ giặt đồ kế bên, tôi nghĩ chắc đó là giếng xưa, vì khu vực này xưa chỉ có giếng duy nhất đó. Còn hai cây thốt nốt xưa tôi từng leo lên để chăng giây anten máy truyền tin nay cũng không còn. Tôi tìm khá lâu mới thấy một bảng xi măng có ghi tên phum (ấp) Veal Rinh và chụp lấy bức hình này. Rất thất vọng, tôi lên xe chạy tuốt về Komponsom (đoạn sau tôi có nói vài kỷ niệm thời quân ngũ khi đóng tại Veal Rinh này).
![]() | ![]() |
| Khum Veal Renh | Giếng xưa đâu? |
Kompongsom
Ở Komponsom ngày xưa chúng tôi có một kho quân trang, quân dụng và lương thực (gạo và nhu yếu phẩm). Vì là Cục Hậu Cần Quân Khu, trách nhiệm của nó là cung ứng những thứ này cho các đơn vị chủ lưc của Quân khu đang tác chiến tại đây, tức khu vực phía Nam Campuchia, kéo dài từ Kampot, Kompongsom đến tận Kokong giáp với Thái Lan. Cánh này được gọi chung là Cục Hậu Cần cánh B, đóng ban đầu tại Sre Ampil, và sau này về Veal Rinh, còn khu vực các tỉnh trong nội địa nhưng vẫn thuộc khu vực phụ trách của Quân khu thì được gọi là Cánh A (có trụ sở nằm chung trong Lò Đường với các ngành khác của Quân khu, gồm Cục Hậu CẦn, Cục Chính Trị, Cục Kỹ Thuật và Bộ Tư lệnh Quân khu). Các kho này đặt tại khu kho của cảng gọi là Khleng Lơ, năm trên dãy đồi cao nhìn thấy cảng bên dưới, còn phía trước kho là dốc thoải thoải về phía thành phố Sihanouk Ville. Trước đây tôi đã từng cùng anh Ẩn Vệ binh Veal Rinh đi chơi xuống đây, lội xuống đồi ra phía thành phố nơi anh Ẩn có một người chị nuôi (người bên này) đang sinh sống. Chúng tôi nghỉ qua 1 đêm tại đó, rồi hôm sau lại lên xe Cục về lại Veal Rinh. Cảng Komponsom lúc đó chỉ nhận hàng của tàu Việt Nam, và tàu chở hàng viện trợ của Nga, còn thì không có hoạt động gì khác, nên chúng tôi có thể ra vào thoải mải.
Lần này trở lại tôi thấy khác quá nhiều. Đường đã được làm tốt hơn, và đang mở rộng thêm nữa từ khu cao này dẫn xuống cảng. Tôi không thấy đâu là Khleng Lơ nữa, có lẽ nó đã biến mất dành cho các công trình nào đó. Những hàng dương xưa kia cũng không còn một cây nào! Tôi đang đi giữa một thành phố đang biến mình sau mấy mươi năm ngái ngủ, nên việc tôi không nhận ra nhà ở Veal Rinh hay kho Khleng Lơ của Kompongsom này cũng là điều thường tình!
Tôi đảo một vòng đường chính xuống ngang cảng rồi theo đường vòng về Sihanouk Ville. Khi đến tượng đài Hữu nghị Việt Nam, thấy có cái băng đá phía biên, tôi dừng xe ngồi để chụp bức hình, và xem lại vài bài tôi đã in ra nói về khách sạn tại đây. Sau khi chạy vài đường, tôi tìm chỗ ăn cái đã. Ghé một quán bên đường chỉnh (Ekcreach) mà thôi thấy có khách đang ăn, tôi gọi tô hủ tiếu và lon bia giải khát. Sau khi ăn xong, tôi tính tiền hết 4 USD.
Tiếp đến tôi đi tìm khách sạn. Khổ là tôi đã chọn 2 tên khách sạn để in ra giấy tên và địa chỉ, nhưng khi ăn cơm xong, tôi hỏi mãi mà thanh niên ở quán cơm chỉ chỉ được tên đường! Anh ta tra máy thì thấy có tên và chỉ về hướng xuống cầu tàu, nhưng tôi tìm không ra dù đảo đi đảo lại trên đoạn đường đông cứng đó mấy lần. Có hai quày Thông tin Du lịch ở đoạn này và có người trực đến đêm, nhưng khi tôi ghé vào và hỏi, thì họ nói có một khách sạn họ là chưa bao giờ nghe tên, còn một thì đã đổi tên! Và khi tôi đến chỗ đó, người ta chỉ lắc đầu nói không có phòng, vì đó chỉ là một nhà hàng, không có chỗ nghỉ. (Sau này khi tra kỹ thì tôi biêt họ đã nghỉ phần kinh doanh nhà nghỉ lâu rồi, và chuyển vị trí kinh doanh ra đường chính, đổi tên là nhà hàng So, cách cầu tàu khách chừng 100 mét bên tay phải nếu từ cầu tàu đi lên). Cái tai họa thứ đến chính là tôi đã đi rơi ngay vào ngày tết Khmer! Từ chiều, tôi đã chứng kiến luồng xe du lịch từ trong nội địa cứ tuôn về Komponsong, và đường Ekchreach, con đường chính của Sihanoukville, chật ních người và xe cộ. Tôi nhích lên nhích xuống đoạn mà tôi nghĩ có hai nhà khách kia, nhưng chẳng tìm ra cho đến khi màn đêm xuống. Ngại là mình khó tìm được, tôi đổi kế hoạch là vào bất cứ chỗ nào tôi thấy ghi nhà nghỉ và hỏi còn phòng không? Tôi ghé hơn dăm chỗ, không nhà nghỉ, khách sạn nào còn phòng! Tôi hơi lo, lần nữa đổi kế hoạch là tìm ở đường xa bãi biển, hi vọng sẽ có phòng vì đường xuống biến xa chắc du khách chê. Tôi theo đường Ekreach từ cầu tàu đảo lên, vừa qua khỏi một cua quẹo 90o, tôi thấy tấm biến nhà khách 171. Có một anh đang đâu xe hai bánh trên lề đường, tôi hỏi nhà nghỉ ở đâu, anh ta chỉ vào một căn nhà sâu bên trong. Tôi theo chỉ đường đó đi vào hỏi một thanh niên thì anh ta nói Có phòng! Sau vài lời trao đổi tôi chấp nhận thuê phòng giá 17 USD/ đêm, rồi lên phòng tắm rửa sau một ngày chạy mệt! Sau khi nghỉ ngơi ít lâu, khoảng 8 giờ tối tôi lấy xe đi ra ngoài, đảo một vòng thành phố. Có quá đông người, từ dân Khmer đi du lịch đến tây ba lô. Tôi đi ngang một quản hải sản, thấy bày bán nào sò, mực, ghẹ v.. thì vào gọi một đĩa nướng và bia hơi của Nga (hình như quán này của Nga vì thấy rất nhiều chỗ ghi tiếng Nga để quảng cáo món ăn, bia v.v..). Tôi nhâm nhỉ 2 ly (1 lít/ly=1 USD) + đia ghẹ nướng 5 USD nữa, vị chi là 7 USD. Bữa hải sản duy nhất trong chuyến đi này!
Trở về phòng tôi mang trái sầu riêng mua ở quày xéo lò bánh mì ở Kampot ra, dùng chìa khóa phóng từ từ tách vỏ ra ăn. Ngon như sầu riêng ở Việt Nam, nhưng tôi đã tự trách mình sao bỏ ra tới 17USD mua nó ở Kampot, trong khi quả tương tự ở VN chỉ cần khoảng 150 đồng! Quả vậy, chi 17 USD có lẽ là món chi crazy nhất tôi đã bỏ ra lãng nhách.
Trở về
3:50 máy bảng của tôi reo vang để báo thức như thường lệ. Tôi thức dậy biết mình đang vẫn còn ngày nghỉ, nghĩa là được tự do hơi ngày thường. Tuy vậy tôi cũng thức và với tay lấy máy bảng để đọc tin chính trên các trang tin tôi thường đọc. Chỉ lướt qua xong, tôi mới bắt đầu nghĩ cho kế hoạch một ngày nữa trong chuyến đi này trên đất Miên. Tôi thấy không còn điểm đến nào ngoài đảo Koh Rong Saloem. Nhưng hôm qua khi nhận phòng, bà chủ nhà hỏi tôi có đi Koh Rong Saloem không, tôi đã nói không, và giải thích là vì có quá nhiều người nên tôi sẽ không đi! Tôi thay đồ, mang giày vào cho thể dục sáng, định chạy xuống biển (khoảng 2 km?), tắm thỏa thích rồi chạy về. Sau khi tắm rửa, tôi sẽ gặp lại bà chủ nhà nhờ mua vé đi Koh Rong Saloem xem được không. Rồi đi ăn sáng, và theo lịch trình, nếu có vé, đi đảo, và sẵn đăng ký thêm 1 ngày nghỉ nữa tại đây, còn nếu không, trả phòng và về Việt Nam.
Sáng vắng vẻ, khi chạy ngang một tụ điểm vui chơi (bar) thì tiếng nhạc vẫn còn ầm ĩ, vài cô cave uể oải từ trong đi ra và lên xe hơi ra về. Họ đã vui chơi suốt sáng!
Tôi chạy xuống mé biển, đường còn vắng vẻ, nhưng cũng thấy có dăm ba du khách đang tới lui, còn ở bãi biển cũng có vài người tắm, một số người thì đang chụp hình, hay chụp hình tự sướng (selfie). Một anh Tây ba lô cũng đang lang thang, ra hiệu với tôi thao tác chạy rồi nháy mắt, chắc ý nói là khỏe (tôi chẳng hỏi han gì anh ta, chỉ đoán qua thao tác). Bãi cát sau một ngày oằn mình cõng số khách quá nhiều của hôm qua (khách du lịch nội địa ùn ùn từ các tỉnh sâu trong nội địa đổ ra đây bằng đủ loại phương tiện có được, nhưng nhiều nhất vẫn là xe du lịch, và nhiều nhất vẫn là người Phnum Pênh (bảng số xe Miên ghi tỉnh và số xe, thí dụ Phnum Pênh + số. Tôi đọc được một ít chữ này, và thấy trong mười xe du lịch đã có đến 9 xe, hoặc hơn nữa là xe của Phnum Pênh, còn thì xe tại chỗ (Prec Sihanuk), hay lân cận (Kampot), thỉnh thoảng mới có xe ở tỉnh xa (Mundonkiri, Siem Riep). Chỉ nhìn thế mới thấy rõ người thủ đô vẫn hưởng tiện nghi nhất trên đất nước này, giống như Hà Nội của Việt Nam vậy. Chính lớp người xe cuồn cuộn này tôi đã chứng kiến tối qua trong cảnh chạy tới lui tìm cho mình một khách sạn không phải là tiện nghi nữa, mà là có hay không, và cuối cùng là cái nhà nghỉ 171 Guest House (mà tiếng Miên ghi là Phte Somnak, Phte Lekh Bram Bay, Phlau Ekriech, Krong Prek Sihanuk tức nhà số 53, đường Ekriech, thành phố Sihanouk). Tôi tránh lễ 30/4 và 1/5 của Việt Nam lại đạp phải vỏ dưa - tôi gặp ngay ngày Chol Chnam Thmay của Miên, suýt tí chẳng biết có chỗ nào ngủ qua đêm không nữa. Đối với các cao thủ phượt tôi còn phải học nhiều. Cần một cái lều, võng, nếu không có khách sạn, tìm một bãi đất trống trãi và mát mẽ, căng lều lên là xong. Live a nomad life, how pleasure it is!
Bãi biển sáng trống trãi, nhìn chung chẳng thấy có gì đáng nói: không sạch sẽ lắm, bên trên là hàng quán sắp chuẩn bị cho một ngày ồn ào tới nữa, trong khi vệ sinh bãi biển cũng không được tốt, vì một số rác của ngày trước vẫn chưa được dọn sạch. Đây là bãi biển cho mọi người tắm, nên không thể bằng bãi biển tại các khu resort. Tôi không phải là người đi nhiều các bãi tắm, nhưng qua mắt mình, tôi nghĩ bãi biển Sihanoukville chỉ thuộc loại bình thường, không thể gọi là đẹp được. Tiếc là tôi chưa ra được bãi biển trên đảo Koh Rong Saloem xem ra sao, dù được đọc nhiều bài viết ca ngợi biển ngoài đảo Koh Rong Saloem.
Sau khi tắm tôi quày lên và mang giày để chạy chiều ngược về. Trên đường gặp một gã tây ba lô trẻ quảy cái ba lô to quá, tôi buột miệng nói với anh ta, "Too heavy for leasure!" và cười cười với anh ta.
Về đến nơi thì thấy xe hơi của khách cũng lục đục rời nhà trọ dần. Xe Miên thuộc loại mới và sang, đa số thuộc loại đắt tiền hơn xe VN, và số lượng thì phải nói là quá nhiều. Tôi nghĩ đến việc khi về dừng ở đâu đó quay vài phút video một đoạn đường nào đó cảnh xe đang giao thông của QL số 4 này (nối Kompongsom- Phnum Penh) và so sánh với một đường nào đó của VN, người ta sẽ có cái nhìn khác với đất nước này. Đó là vì dòng xe du lịch chạy không dứt, đường ít cảnh hỗn độn hơn có lẽ do ít xe 2 bánh gầm rú, lạng lách hơn đường ở Việt Nam. Chực nhớ hôm nào đó đọc bài báo nói Việt Nam cần học Campuchia về cách làm lúa (nghĩa là ngầm xem như mấy mươi năm nhắm mắt cho lúa cao sản và chất lượng tồi là một thất bại. Một nước tự hào ngàn năm làm ruộng, nay cho ra sản phẩm chẳng bằng ai, thì còn gì để tự hào nữa đây?). Tôi nghĩ với đà phát triển này của đất nước mình và đất nước Campuchia, không cần nhiều thời gian để chứng minh cho con đường thành công hơn thuộc về nước nào!
Sau khi tắm rửa xong, tôi mặc đồ vào xuống tìm người của nhà trọ để hỏi cách mua vé tàu ra đảo. Thấy cô cháu gái nhỏ của bà chủ đang ngồi ở ngoài quày nhận khách, tôi hỏi cô có nói tiếng Anh được không? Thấy cô ta nói được, tôi liền hỏi nhờ mua vé 2 chiều đi Koh Rong Saloem. Cô ta có lẽ chỉ biết ít hơn câu tôi hỏi, nên cứ lớ ngớ chẳng trả lời gì. Tôi biết mình phải chờ cậu trai hôm qua, hoặc mẹ cậu ta, tức bà chủ mới xong. Và lát sau bà ta đi ra từ nhà trong, tôi liền đến hỏi bà. Bà liền nhắc, "hôm qua tôi có hỏi cậu có đi đảo không thì nghe nói là không kia mà," làm tôi phải giải thích: Ấy hôm qua thấy du khách quá nhiều nên tôi nản mà nói thế, nhưng hôm nay thì đổi ý. Tôi muốn đi đảo!
Bà ta quay sang nói chờ bà liên hệ con gái, vì nó chuyên bán vé này. Bà gọi điện, nói vài câu với cô gái xong, liền đưa tôi điện thoại của bà. Bà muốn tôi nói trực tiếp với cô gái, nên tôi cũng nói sơ là tôi cần mua vé đi đảo, liệu có thể mua được không? Không, cô gái trả lời, rồi giải thích khách nhiều quá, đã mua hết cả vé rồi ông ơi. Đành cám ơn, và trả lại cho bà chủ máy điện thoại. Tôi nói với bà ta nếu đi đảo được thì tôi phải ở thêm 1 ngày, nhưng do không đi được, tôi chẳng biết còn chỗ nào đi chơi nữa! Thôi, tôi sẽ trả phòng hôm nay.
Trước khi lấy xe ra về, tôi xem sơ qua tuyến đường sẽ đi hôm nay: Sihanouk Ville, ngã ba Veal Rinh (nay là ngã ba Prey Nup, còn chữ Veal Rinh mà ngày xưa tôi biết nay còn chỉ ở cái chợ gần đó, và đường vào một ấp nhỏ mà chuyến đi khi ghé ngang đây tôi có chụp hình tấm biển nhỏ nhắn khó thấy bên con đường hẹp dẫn vào ấp), Kampot, của khẩu Xà xía. Có lẽ giờ cơm tôi sẽ đến Kampot, và sẽ ăn trưa tại đây, sẵn dịp có cái nhìn kỹ hơn thành phố biển được cho là yên tĩnh với một số du khách, hoặc ngái ngủ với vài du khách khác.
Tôi chạy một mạch đến đoạn đường phải qua một thung lũng rồi leo lên đồi, một khúc quanh mà ngày xưa toán TNXP thuộc đơn vị tôi quản lý bị phục kích làm một anh chết và xác được chở về để thù lù trước mắt tôi. Anh Đồi (Đại úy, Phòng TM) đã nói, "Tao nói rồi, nó sẽ làm thịt bây ở đoạn này. Có sai đâu!" Hôm nay đi ngang lại khu đồi này trong dòng xe tấp nập, cảnh cũ còn đây, và người xưa đã là cát bụi mấy chục năm rồi. Cuốn nhật ký sống của tôi có ghi ngày này, nhưng khi chuyển nhà, bọn trộm đã vào và lấy tất từ sách báo đến đồ nhôm, và cả quyển nhật ký tôi ôm ấp mấy chục năm trời! Tôi dừng xe chụp cảnh khi vừa từ đồi đi xuống dốc, đoạn mà trước đây họ bị bắn khi leo ngược dốc lên đồi này, trong một sáng từ Veal Rinh mở đường xuống cảng Komponsong hàng ngày trước khi các đoàn xe tải chở gạo, và quân lương, quân dụng bắt đầu hoạt động. (Hàng ngày một tiểu đội vệ binh phối hợp với thanh niên xung phong đều phải đi như thế nếu như ngày đó Cục Hậu cần phải chuyển hàng).

Bồi hồi nhìn cảnh cũ..
Đến Veal Rinh tôi lại dừng, lần này ngay chợ. Ý định là tôi sẽ vào xem có gì mua không, và lúc dừng ngoài đường, quay đoạn ngắn cảnh vật xung quanh, và dòng xe cộ trên quốc lộ 4, như đã nói. Tôi dừng xe bên lề và ghi hình một hồi, rồi chạy xe một vòng chợ. Tôi nhìn hai bên, hàng bày bán chỉ là những vật dụng sinh hoạt bình thường hàng ngày của người dân, chẳng có gì đặc biệt để mua. Tôi quày ra và tiếp tục hành trình về nước.
Từ ngã ba Prey Nup về hướng Kampot có một đoạn đường đang được làm lại. Người ta đã trãi đá một phần, nhưng một phần chỉ trơ đất đỏ. Dù là đường trãi đá hay đất đỏ mùa khô này khi mỗi xe chạy ngang nó tung lớp bụi mù mịt, mà tôi thấy mấy xe du lịch Campuchia này vẫn chạy tốc độ bình thường khi đi ngang đó. Tôi nhìn đồng hồ km của xe, và đo khoảng chiều dài đoạn này là hơn 5 km. Chỉ hơn 5 km chạy trong bụi đất mù mịt này mà chiếc xe của tôi đã như vừa đi qua một bãi chiến trường làm cho nó bám bụi đến khiếp cho mãi đến nhà mình.
Do đã xem sơ qua sơ đồ thành phố Kampot, vốn có 2 cầu bắt ngang, một cầu sắt (có lẽ cũ), và cầu xi măng mới hơn. Hai bên sông thoáng (không cất nhà kiểu Việt Nam thường che khuất bờ sông), và một hàng câng cùng băng đá ngồi. Tôi đến một ghế ngồi nghỉ mệt, ngắm dòng sông êm đềm và mượt mà màu xanh. Xa xa, núi Pokor sừng sững như một bức thành kiên cố. Tôi mở máy chụp hình, chụp cả hai phía, một là cây cầu sắt (cầu cũ), hai là cầu xi măng (cầu mới). Nghiễm nhiên đàng sau và phía xa của cây cầu xi măng làm phông cho bức ảnh là núi Pokor. Núi Pokor với tôi nghe sao quá quen, từ ngày tôi còn ở Veal Rinh, nơi văn phòng làm việc của mình, sát với văn phòng làm việc của mấy xếp (Cục Hậu Cần Tiền Phương, ông Chính Ngân), nhìn thẳng ra núi Pokor ở phía xa, còn phía trước mắt là giếng nước mà chúng tôi phải ra tắm hàng ngày. Xa hơn một chút là quốc lộ 4, phía bên kia đường là Đội Điều Trị 3. Đó là cảnh của gần 40 năm trước, nay tôi trở lại không còn chút dấu vết nào, nhưng ký ức Pokor vẫn còn đó. Đó là câu chuyện của Phol kể cho tôi, giải thích chữ Bokor (Phol là người Khmer bên mình mà bên này họ gọi là Khmer Krome/ Khmer miệt dưới): bô (បូក) là cái bướu, kô (គោ) là bò. Núi Bokor là núi Bướu Bò, cái tên bây giờ nghe thật là quen thuộc! Và nó được gọi như thế vì hình thù của cái đỉnh núi này: một đường phẳng nằm ngang như cái lưng bò với chỗ nhô cao lên về phía Kampot, là cái bướu của con bò. Bên mình người Việt hay gọi là núi Tà Lơn (?) cũng là nó đó. Phải nói chữ Tà Lơn tôi có nghe, nhưng những gì Phol nói có đúng hay không tôi không biết chắc, trừ cái tên Bokor mà sau này tôi có hỏi dân tại đây thì họ cũng nói thế. Nên nhớ là không người Campuchia nào bên xứ này biết chữ Tà Lơn, và qua phân tích cấu tạo của từ này, rõ ràng nó không phải từ tiếng Việt (tà là ông, lơn là lên). Vậy có thể là tên Tà Lơn do người Khmer bên Việt Nam (Khmer Krom) gọi núi Bokor này.
![]() | ![]() |
| Cầu Cũ | Cầu Mới |
Hai cây cầu bắt qua sông Kampot êm đềm
Khi mới chuyển sang Campuchia, tôi được gửi trên một xe Cục hậu cần QK 9 để về Cục Hậu Cần Tiền Phương (đó là Cục HC QK 9 nhưng nằm ở Campuchia). Tôi đến đơn vị ở Ruộng Muối thuộc tỉnh Kokong (Sre Ampil). Nó chỉ thuộc địa bàn quận này, nhưng còn lưng lửng giữa ngã ba Chamka Luong và quận Ruộng Muối. Lúc đó đơn vị chuẩn bị chuyển căn cứ về Veal Rinh, nên tôi đến Ruộng Muối chỉ vài tuần lễ thì lên xe về Veal Rinh. Lúc đó đã vào mùa mưa năm 1979, và mấy tuần tôi ở Sre Ampil là mấy tuần lễ mịt mù mưa vùng núi và biển. Tôi không biết đợt mưa đó có do ảnh hưởng cơn bão nào không, nhưng nó làm tôi sợ, vì quần áo phơi hoài không khô dưới ẩm độ và mưa mù đó. Tại đây tôi mới biết ông Chín Ngân, Phương (thư ký) và anh Mân (là thủ trưởng trực tiếp của tôi). Khi về Veal Rinh, thì những đợt mưa não lòng như thế nhìn về Pokor chỉ thấy một dãy mịt mù màu đen. Khi về Veal Rinh, tôi cùng anh Mân quảy lỉnh khỉnh đồ đạc của bộ phận thông tin. Máy móc thì xe chuyển đến nhà, còn chúng tôi quảy ba lô đi lểnh nghểnh ở đoạn quốc lộ 4 hướng về trại mình ở (nay nằm hơi sâu phía sau ngã ba Prey Nup). Trên đường đi, anh Mân gặp một toán quân chừng dưới 10 người, mà trưởng nhóm đó lại là bạn của anh. Tôi nghe họ nói chuyện mới biết bạn anh là đại đội trưởng, và lính của bạn anh, một đại đội, chỉ còn chừng đó người! Anh ta bảo lính của anh rụng gần hết, chờ bổ sung nhưng chưa kịp, và hiện đang thiếu pin cho máy truyền tin. Anh ta hỏi xin pin anh Mân. Vốn là trưởng đơn vị thông tin của Cục Hậu Cần, dĩ nhiên anh Mân có pin, nên sẵn lòng cho anh ta một ít.
Tôi hiểu là những cánh rừng, ngọn núi ở gần đó, trong đó có cả những cụm rừng thuộc nuối Pokor kia, đã gặm nhấm nhiều sinh mạng của các đồng ngũ đi trước tôi. Và bản thân mình, khi được đưa sang đây, tôi cũng không biết mình sẽ ra sao nữa. Dù sao, tôi đang ở đơn vị hậu cần nên ít chịu cảnh nguy hiểm hơn, và vì chúng tôi nằm ngay tại bộ chỉ huy Hậu cần cánh B, một nhánh khác của Hậu cần Quân khu (nhánh chính này là chỗ sau này chúng tôi cũng được gom về đó, chính là tại Rông Chắc, tỉnh Komponspeu) nên cũng được đầy đủ hơn.
Vì tôi ở bộ phận thông tin, nên ngay sau khi đến nơi, chúng tôi phải lắp thiết bị để hoạt động bình thường. Đó là phải chăng cái anten cho máy truyền tin (gửi tín hiệu morse). Anh Mân bảo tôi leo lên cây thốt nốt để chăng giây antenn này. Tôi cửi đồ leo theo cây thang tre cũ còn nằm ở cặp thân cây (cây thang này người Khmer dùng leo lên xuống để lấy và đặt ống tre hứng nước thốt nốt hàng ngày). Khi tôi leo lên, mấy người dân Khmer thấy vậy thì hớt hải chạy đến nói vang lên những tiếng Khmer tôi không hiểu (do mới sang). Anh phiên dịch nói lại là họ nói cây thang tre đó lâu rồi không dùng, dây cột đã cũ, leo lên sẽ đứt dây, gãy cây, té chết đó! (dù sao chúng tôi cũng phải treo dây, và cũng đã treo xong).
Và cuối cùng là ký ức về anh Mân, thủ trưởng trực tiếp của tôi: anh ta là người khoái săn chim. Do chúng tôi ở Cục Hậu Cần, quản lý binh lương và cả vũ khí đạn dược nữa. Những người thích săn chim đều có một khẩu carbin dùng đi săn. Có khi là đạn nguyên, nhưng nhiều khi là đạn đã chế lại (họ cà lấy đầu nhọn bỏ, đóng đạn chì và bớt thuốc). Cái hay duy nhất là cây súng carbin này dùng bắn rất chính xác. Có hôm anh đi lang thang một mình với cây súng này nơi các ao sen cặp núi phía sau đơn vị, mãi mê rình bắn le le đến tối mịt chưa về. Chính một ngày trong những lần như thế, ông Tư Thiệt (Thiếu tá), Trưởng phòng Tham Mưu, đã té tát quá chửi tính vô kỷ luật của anh (mà tôi nghĩ ra, không phải do ghét bỏ, chỉ sợ anh bị Pôn Pốt bắn chết rồi vùi thây ở rừng mà chẳng ai hay!). Vì dù sao, chúng tôi cũng dùng chung cơm hàng ngày, những món cải thiện thêm này (cơm thì lấy ở bếp tập thể, còn món cải thiện này thì tự nấu) cũng được dùng chung, và ông có từ chối đâu?
Hay giai đoạn đầu, khi đơn vị tôi còn quản lý một đại đội thanh niên xung phong, và cái chết của một thanh niên xung phong trẻ trong một sáng mở đường xuống Komponsom. Hay những em bé ở trại trẻ mồ côi cất sau này ngay trước cơ quan tôi, sát đường quốc lộ, với các em bé như bé Dol, bé Thót, bé Ni. Nhớ hôm cuối cùng ở Veal Rinh lúc lên xe về Rông Chắc, mấy em bé nghe tôi đi thì bu lại chỉ trỏ, nhí nhố những gì tôi không hiểu, còn à Dol thì nói, "Kal na swai tum pu De mok hop na".
Nói tóm lại, kỷ niệm tại Veal Rinh của tôi nhiều quá, nên lần này ghé qua để nhớ lại chuyện mấy mươi năm trước cũng là chuyện thường tình. Chỉ có điều, người xưa giờ trở lại đây, mà cảnh xưa đâu còn nữa!
Tôi tiếp tục hành trình về đến Kampot hơi quá trưa. Tôi đi về bằng cây cầu mới, rẻ phải chạy cặp bờ sông để gặp đường cầu cũ dẫn tới và theo đó hướng về Việt Nam. Trước khi đến biểu tượng cây trái của Kampot (mà lớn nhất chính giữa là trái khóm, xung quanh đủ loại trái cây khác, hàm ý Kampot là xứ sở của trái cây- Một biểu tượng khác ở ngã tư gần đó là biểu tượng người làm muối, cũng là ngành đặc thù của tỉnh này), tôi thấy bên phải một quán cơm nhỏ. Tôi ghé vào, hỏi bằng tiếng Khmer, "Miên ây hôp tê ming?" Bà ta trả lời, "Miên bai". Tôi hỏi tiếp, "Bai hôp chia mui ây?", thì được trả lời là "Sách mon, sách chruc". Họ nghe tôi nói thì có vẻ ok không biết tôi là dân "ngoại đạo" (không phải người Khmer), nhưng khi tính tiền, tôi ngớ ra, nghe không được chữ pil trong "Bram pil pon riel". Nếu như nói chầm chậm, và nói là "bram pi pon riel" rạch ròi thì người chưa quen nghe như tôi có thể nhận ra, còn "Pil" ở đây là tôi ngớ! Dù sao khi đưa tiền ra từng đồng, bà lấy 7 ngàn riel. Điều này làm tôi sực nhớ lại, thay vì bảy đọc là bram pi, người Khmer lại nói là "pram pil". Từ hồi sang đây đến giờ, đây có lẽ đây là bữa cơm rẻ nhất tôi trả tiền, vì tính ra chưa đầy 2 đô la (ở đây tính 1 đô la =4000 riel) tôi có một bữa ăn rồi, trong khi nơi khác lấy tôi đến 3 đô la hay hơn nữa!
Cơm xong tôi lên xe về. Có dừng chụp hình cái biểu tượng trái cây, biểu tượng người làm muối, và một đoạn đường có treo cờ Khmer dịp Tết. Về thẳng đến Xà Xía khi trời đã xế chiều, mà đường thì còn xa. Dù thời gian làm thủ tục không lâu, nhưng vẫn là thủ tục phải làm xong mới tiếp tục, cũng phần nào ngốn thời gian. Tôi định sẽ ghé cầu Cái Lớn để ăn khóm ngọt lịm ở đây nữa trước khi chạy thẳng về nhà. Và tôi đã làm như thế, trước khi về đến nhà với sự ngạc nhiên của vợ tôi, nhất là sau khi tôi nói tôi đi thẳng về nhà từ Kompong Som! Tính số km trên đồng hồ xe, tôi đã chạy hơn 360 km trong ngày về này!
Khi mới chuyển sang Campuchia, tôi được gửi trên một xe Cục hậu cần QK 9 để về Cục Hậu Cần Tiền Phương (đó là Cục HC QK 9 nhưng nằm ở Campuchia). Tôi đến đơn vị ở Ruộng Muối thuộc tỉnh Kokong (Sre Ampil). Nó chỉ thuộc địa bàn quận này, nhưng còn lưng lửng giữa ngã ba Chamka Luong và quận Ruộng Muối. Lúc đó đơn vị chuẩn bị chuyển căn cứ về Veal Rinh, nên tôi đến Ruộng Muối chỉ vài tuần lễ thì lên xe về Veal Rinh. Lúc đó đã vào mùa mưa năm 1979, và mấy tuần tôi ở Sre Ampil là mấy tuần lễ mịt mù mưa vùng núi và biển. Tôi không biết đợt mưa đó có do ảnh hưởng cơn bão nào không, nhưng nó làm tôi sợ, vì quần áo phơi hoài không khô dưới ẩm độ và mưa mù đó. Tại đây tôi mới biết ông Chín Ngân, Phương (thư ký) và anh Mân (là thủ trưởng trực tiếp của tôi). Khi về Veal Rinh, thì những đợt mưa não lòng như thế nhìn về Pokor chỉ thấy một dãy mịt mù màu đen. Khi về Veal Rinh, tôi cùng anh Mân quảy lỉnh khỉnh đồ đạc của bộ phận thông tin. Máy móc thì xe chuyển đến nhà, còn chúng tôi quảy ba lô đi lểnh nghểnh ở đoạn quốc lộ 4 hướng về trại mình ở (nay nằm hơi sâu phía sau ngã ba Prey Nup). Trên đường đi, anh Mân gặp một toán quân chừng dưới 10 người, mà trưởng nhóm đó lại là bạn của anh. Tôi nghe họ nói chuyện mới biết bạn anh là đại đội trưởng, và lính của bạn anh, một đại đội, chỉ còn chừng đó người! Anh ta bảo lính của anh rụng gần hết, chờ bổ sung nhưng chưa kịp, và hiện đang thiếu pin cho máy truyền tin. Anh ta hỏi xin pin anh Mân. Vốn là trưởng đơn vị thông tin của Cục Hậu Cần, dĩ nhiên anh Mân có pin, nên sẵn lòng cho anh ta một ít.
Tôi hiểu là những cánh rừng, ngọn núi ở gần đó, trong đó có cả những cụm rừng thuộc nuối Pokor kia, đã gặm nhấm nhiều sinh mạng của các đồng ngũ đi trước tôi. Và bản thân mình, khi được đưa sang đây, tôi cũng không biết mình sẽ ra sao nữa. Dù sao, tôi đang ở đơn vị hậu cần nên ít chịu cảnh nguy hiểm hơn, và vì chúng tôi nằm ngay tại bộ chỉ huy Hậu cần cánh B, một nhánh khác của Hậu cần Quân khu (nhánh chính này là chỗ sau này chúng tôi cũng được gom về đó, chính là tại Rông Chắc, tỉnh Komponspeu) nên cũng được đầy đủ hơn.
Vì tôi ở bộ phận thông tin, nên ngay sau khi đến nơi, chúng tôi phải lắp thiết bị để hoạt động bình thường. Đó là phải chăng cái anten cho máy truyền tin (gửi tín hiệu morse). Anh Mân bảo tôi leo lên cây thốt nốt để chăng giây antenn này. Tôi cửi đồ leo theo cây thang tre cũ còn nằm ở cặp thân cây (cây thang này người Khmer dùng leo lên xuống để lấy và đặt ống tre hứng nước thốt nốt hàng ngày). Khi tôi leo lên, mấy người dân Khmer thấy vậy thì hớt hải chạy đến nói vang lên những tiếng Khmer tôi không hiểu (do mới sang). Anh phiên dịch nói lại là họ nói cây thang tre đó lâu rồi không dùng, dây cột đã cũ, leo lên sẽ đứt dây, gãy cây, té chết đó! (dù sao chúng tôi cũng phải treo dây, và cũng đã treo xong).
Và cuối cùng là ký ức về anh Mân, thủ trưởng trực tiếp của tôi: anh ta là người khoái săn chim. Do chúng tôi ở Cục Hậu Cần, quản lý binh lương và cả vũ khí đạn dược nữa. Những người thích săn chim đều có một khẩu carbin dùng đi săn. Có khi là đạn nguyên, nhưng nhiều khi là đạn đã chế lại (họ cà lấy đầu nhọn bỏ, đóng đạn chì và bớt thuốc). Cái hay duy nhất là cây súng carbin này dùng bắn rất chính xác. Có hôm anh đi lang thang một mình với cây súng này nơi các ao sen cặp núi phía sau đơn vị, mãi mê rình bắn le le đến tối mịt chưa về. Chính một ngày trong những lần như thế, ông Tư Thiệt (Thiếu tá), Trưởng phòng Tham Mưu, đã té tát quá chửi tính vô kỷ luật của anh (mà tôi nghĩ ra, không phải do ghét bỏ, chỉ sợ anh bị Pôn Pốt bắn chết rồi vùi thây ở rừng mà chẳng ai hay!). Vì dù sao, chúng tôi cũng dùng chung cơm hàng ngày, những món cải thiện thêm này (cơm thì lấy ở bếp tập thể, còn món cải thiện này thì tự nấu) cũng được dùng chung, và ông có từ chối đâu?
Hay giai đoạn đầu, khi đơn vị tôi còn quản lý một đại đội thanh niên xung phong, và cái chết của một thanh niên xung phong trẻ trong một sáng mở đường xuống Komponsom. Hay những em bé ở trại trẻ mồ côi cất sau này ngay trước cơ quan tôi, sát đường quốc lộ, với các em bé như bé Dol, bé Thót, bé Ni. Nhớ hôm cuối cùng ở Veal Rinh lúc lên xe về Rông Chắc, mấy em bé nghe tôi đi thì bu lại chỉ trỏ, nhí nhố những gì tôi không hiểu, còn à Dol thì nói, "Kal na swai tum pu De mok hop na".
Nói tóm lại, kỷ niệm tại Veal Rinh của tôi nhiều quá, nên lần này ghé qua để nhớ lại chuyện mấy mươi năm trước cũng là chuyện thường tình. Chỉ có điều, người xưa giờ trở lại đây, mà cảnh xưa đâu còn nữa!
Tôi tiếp tục hành trình về đến Kampot hơi quá trưa. Tôi đi về bằng cây cầu mới, rẻ phải chạy cặp bờ sông để gặp đường cầu cũ dẫn tới và theo đó hướng về Việt Nam. Trước khi đến biểu tượng cây trái của Kampot (mà lớn nhất chính giữa là trái khóm, xung quanh đủ loại trái cây khác, hàm ý Kampot là xứ sở của trái cây- Một biểu tượng khác ở ngã tư gần đó là biểu tượng người làm muối, cũng là ngành đặc thù của tỉnh này), tôi thấy bên phải một quán cơm nhỏ. Tôi ghé vào, hỏi bằng tiếng Khmer, "Miên ây hôp tê ming?" Bà ta trả lời, "Miên bai". Tôi hỏi tiếp, "Bai hôp chia mui ây?", thì được trả lời là "Sách mon, sách chruc". Họ nghe tôi nói thì có vẻ ok không biết tôi là dân "ngoại đạo" (không phải người Khmer), nhưng khi tính tiền, tôi ngớ ra, nghe không được chữ pil trong "Bram pil pon riel". Nếu như nói chầm chậm, và nói là "bram pi pon riel" rạch ròi thì người chưa quen nghe như tôi có thể nhận ra, còn "Pil" ở đây là tôi ngớ! Dù sao khi đưa tiền ra từng đồng, bà lấy 7 ngàn riel. Điều này làm tôi sực nhớ lại, thay vì bảy đọc là bram pi, người Khmer lại nói là "pram pil". Từ hồi sang đây đến giờ, đây có lẽ đây là bữa cơm rẻ nhất tôi trả tiền, vì tính ra chưa đầy 2 đô la (ở đây tính 1 đô la =4000 riel) tôi có một bữa ăn rồi, trong khi nơi khác lấy tôi đến 3 đô la hay hơn nữa!
Cơm xong tôi lên xe về. Có dừng chụp hình cái biểu tượng trái cây, biểu tượng người làm muối, và một đoạn đường có treo cờ Khmer dịp Tết. Về thẳng đến Xà Xía khi trời đã xế chiều, mà đường thì còn xa. Dù thời gian làm thủ tục không lâu, nhưng vẫn là thủ tục phải làm xong mới tiếp tục, cũng phần nào ngốn thời gian. Tôi định sẽ ghé cầu Cái Lớn để ăn khóm ngọt lịm ở đây nữa trước khi chạy thẳng về nhà. Và tôi đã làm như thế, trước khi về đến nhà với sự ngạc nhiên của vợ tôi, nhất là sau khi tôi nói tôi đi thẳng về nhà từ Kompong Som! Tính số km trên đồng hồ xe, tôi đã chạy hơn 360 km trong ngày về này!
















