Thursday, September 27, 2018

Thăm một số chùa Khmer ở Sóc Trăng, Bình Minh...

Ngày 1/9/2018 nhằm thứ Bảy, có nghĩa là tôi vẫn đi làm bình thường.
Vài ngày trước vợ tôi có hỏi nghỉ lễ năm nay có về quê Vĩnh Long không, tôi nói có, nhưng vì lịch nghỉ chưa thông báo nên hành trình cụ thể chưa biết được. Đến chiều thứ Sáu tôi mới biết được là ngày thứ Hai nghỉ, còn sáng thứ Bảy vẫn làm bình thường. Điều này không có gì lạ và tôi cũng không cò gì gấp trong chuyến đi này, nên cũng theo đúng lịch làm việc của công ty. Vợ tôi sáng đó điện hỏi lịch nghỉ để sắp xếp lịch làm  việc (làm thêm) với phòng khám Minh Đức, tôi cho biết lịch nghỉ, và nói sẽ đi khoảng 2 giờ chiều thứ Bảy.

Dạo này chiếc xe tôi dùng có vài điểm cần sửa cho chuyến đi xa, điều này tôi đã nghỉ đến từ trước lễ khá lâu, nhưng cuối cùng vẫn không có thời gian cho việc sửa này (nhông, sên, đĩa mòn nhiều nên đã có lần sên đội răng và tuột ra ngoài; sợi dây đồng hồ tốc độ bị đứt nên kim liệt, và, khá lâu rồi không thăm nhớt xem có còn hay quá cũ cần thay không...). Chỉ sáng thứ Bảy sau khi đi thể dục về tôi dành vài phút tra thêm nhớt cho sên, và căng để nó không quá chùng dễ dẫn đến "đội sên" lần nữa.

Trước đó Duy có điện hỏi tôi lễ có về không để nó biết mà cắt cành lê kima (Pouteria lucuma) mà trước đó tôi nhờ nó tìm chiết dùm một nhánh, lần về này tôi sẽ mang về Cà Mau trồng ở vườn mình (chà, theo vài tài liệu tôi đọc được thì cây bình dị này lại là một super fruit!). Cái cây từ thuở bé tôi vẫn hay trèo hái trái cho má tôi bán ở chợ có giá rẻ bèo kia chỉ giúp má tôi có được ít tiền để nuôi một bầy con hóa ra nay được người ta ca ngợi do nó chứa nhiều chất bổ dưỡng, nhưng trên cả là caroten, tức tiền vitamin A, cùng nhiều chất khác, nhất là chất ngọt không hại cho sức khỏe. Mặc dù nó it được ca ngợi hơn quả gấc(Momordica cochinchinensis) hay cây chùm ngây (Moringa oleifera), nhưng cũng là một loại trái trong hàng super fruit sao lại không tìm? Vâng, tôi đã có cây chùm ngây rồi, dây gấc rồi, nay lại thêm cây này, quả là đã có khá nhiều cây gọi là super power plants trong vườn mình vậy!



Cây lêkima (cắt đọt), và cây mai ghép giống
"Giảo Thủ Đức" đầu tiên đợt này

Cũng như nhiều lần đi trước, lần về này tôi cũng dùng đường mới Quản lộ Phụng hiệp, khi đến Ngã Năm thì đi lối tắt qua Long Mỹ, đổ ra Cái Tắc để về Bình Minh. Nhưng có điều gần như thành qui luật, những con đường mới làm sau này có thời gian sử dụng chẳng bao lâu đã xuống cấp trầm trọng: từ những "hương lộ" đến "quốc lộ". Ví dụ, đã có lân tôi đi đường Sông Đốc lúc nó mới làm xong, rồi ít lâu sau có dịp lại đi xuống lần nữa (chắc cũng một vài năm sau), thì đường tráng nhựa phẳng phiu của lần đi trước đã biến mất, con đường tôi đi đầy chỗ dặm vá, ổ gà, xốc xếch như cái áo cũ vá đi vá lại nhiều lần. Con đường mơi nối Hậu Giang-Cần Thơ mới làm thông xe chừng hơn năm sau đã thấy dặm vá, và một lần tôi đi từ Cần Thơ về một đoạn dài đã hư nát chưa kịp vá, chỉ đổ đá thô. Và Quản lộ Phụng Hiệp này (quốc lộ) chỉ dùng mới mấy năm, nhiều cây cầu bạc tỉ đã thủng lỗ lòi kết cấu sắt của sàn cầu, mà những bộ phận duy tu cũng chẳng buồn vá kịp thời. Vài tháng sau có lần tôi đi lại thì những chỗ đó được tạp đắp nhựa ngào lên!a Còn đường thì cú hư, cứ vá và non 100 km nối Cà Mau-Ngã Năm đường vô tư xốc người đi honda như ngựa xảy! Chỉ cần đi qua những con đường như thế là thấy được có điều gì đó đã làm cỗ máy hành chánh này bị tê liệt, không còn chạy đúng chức năng nữa: ngành cầu đường đã malfunction rồi. Rồi có khi ngồi ngẫm nghĩ đến những lãnh vực khác, ta thấy hàng núi những ngành, bộ phận cũng gần như thế! Suốt mấy mươi năm qua, từ khi tôi chưa rời ghế nhà trường, nay đã nghỉ hưu, đến con cháu tôi học cứ mãi nghe điệp khúc cải cách giáo dục, mà giáo dục thì cứ ngày càng nát ra: nào cô giáo mầm non như quĩ dữ xuất hiện để đày đọa con nít, nào những lối đánh vân của cái tên phương pháp nghe thật kêu "công nghệ giáo dục", nào cán bộ giáo dục sửa điểm thi trên máy tinh để đổi điểm hàng loạt thí sinh. Thôi, chuyện con lộ làm tôi lan man qua chuyện khác thì cũng khổ!

Vừa qua khỏi Ngã Năm, đến quán cà phê võng Hồng Nhi tôi ghé nghỉ ngơi và uống cà phê. Rủi thay chủ nhà có lẽ có đám tiệc gì đó, vẫn còn bàn nhậu dù trời đã về chiều. Những khách cứ thay phiên nhau để ca hát, từ những bài tân nhạc đến vọng cổ, tất cả đưa vào hệ thống loa "ngàn watt", cho ra thứ âm thanh "giết người" hàng trăm decibel. Chúng tôi vào bàn cách xa nhất giàn âm thanh đó, mà vẫn có cảm giác áo rung lên theo tiếng loa. Nếu có một "luật lệ về ô nhiễm" thì nó phải thực thi với loại ô nhiễm âm thanh này, không ai có thể lấy lí do đám tiệc nhà mình để cho ra thứ rác làm phật lòng cả xóm lẫn người đi ngang qua.

Khi nằm móc điện thoại thấy cuộc gọi nhỡ của anh Ân, tôi mới điện hỏi lại, thì anh hỏi tôi đã về đến đâu rồi. Tôi nói đã đến Ngã Năm. Anh cho biết hỏi để ở nhà chuẩn bị cho hợp thời gian. Tôi có hỏi có cần mua gì thêm không, ai nói đã có vài món như vịt quay và cá. Dù vậy, tôi lội sang quày ngang quán mua thêm 1 kg thịt bò định sẽ về xào cho bàn nhậu. Khi tôi về thì thấy Thiện đang chuẩn bị một món nữa là hào xào bắp. Đây là món hơi công phu: vì bắp xào cần phải luột chín rồi tách rời ra mới xào được. Ấy vậy mà Thiện vẫn lui cui làm đến xong và mang ra bàn...

Bàn nhậu hôm đó rút ra lại có sự góp mặt của khá đông: người nhà thì có anh Ân, tôi, Thanh, Thanh, giáo Út, Thiện, Sơn (Sơn đi cùng vợ), Phước (bạn Thanh), Duy (về sau). Lúc khá tôi có bạn Thanh là Phú xe và bạn nó, và cuối cùng Nguyên (Mạch Phước), bạn Thanh nữa. Người thì thích ca, người thì nói chuyện râm ran, nói chung là một tiệc gặp mặt khá ồn ào bởi dàn loa và amply mới của Thanh (amply đến 1000 watts, đâu dám mở lớn), cũng như nhiều người nói chuyện râm ran quá... Tôi đã ngồi được đến gần hết, khi đi vào thì cảm giác say nhiều nên vào ngủ mà không tiếp dọn dẹp được.

Sáng ngày sau, dù có say, khi nghe báo thức tôi định dậy tập thể dục, nhưng khi cố tìm cái đồng hồ tomtom lại không thấy mới hay mình đã bỏ quên ở nhà! Thật tệ khi cái dây sạc thì đã nhét vào rồi mà đồng hồ lại bỏ lại. Có phải triệu chứng của quên trước quên sau này là biểu hiện hiển nhiên của tuôi già? Do không có đồng hồ, do say, tôi lại nằm ngủ tiếp đến khi dậy lần nữa thì mặt trời đã mọc. Sau khi làm vệ sinh sáng, tôi mang giày vào chạy được chừng non 2 km thì quay về tắm rửa.

Do trời mấy hôm nắng tốt, vườn khô ráo, nên tôi đi lòng vòng ra vườn, ra tận lộ sau nhà, đi thốc trở ra đến vườn Bác Sáu... Nhiều nhà đã lên líp ở ruộng bên ngoài con lộ này, có gốc gác là vành đai Ấp Chiến Lược, đắp khoảng 1960-61, và sau khi ông Diệp bị lật đổ thì nó nằm đó như con đường đất cho trâu bò đi. Vài năm trước người ta sửa lại con đường đó, có lẽ để mở lại đường làng nằm sau nhà dân, do đường cặp sông giờ có quá nhiều nhà, khó mở rộng. Nhìn chung, nó cũng sẽ là con đường làng thứ hai phía sau nhà cố cựu ven sông, và dĩ nhiên, nay có nhiều nhà mới đón gió ở con đường mới này, dù con đường hiện giờ chỉ rải đá để đi lại thuận tiện khi mưa.

Tôi ăn sáng bằng ổ bánh mình + hột vịt chiên,  rồi cơm trưa với thịt bò xào, canh và cá kho. Xế một chút Đề gọi tôi, hỏi tôi có rảnh thì xuống nhậu chơi! Tôi định từ chối, nhưng lâu quá bạn bè mới gọi mà không đi thì cũng lãng quá, nên cuối cùng cũng đồng ý. Tôi mặc đồ vào chờ nó chạy xe 2 bánh lại rước tôi đi. Đề chạy thẳng về nhà bác Sáu rồi đi thẳng ra sau vườn, nơi đang tổ chức nhậu: em Đề đang tiếp đãi anh xuôi gia ở Cần Thơ sang chơi. Có vài người nữa là bạn của em Đề hay bà con gọi bằng cậu... Tôi uống chừng 2 lon thì anh xuôi em Đề xin về, tôi cũng nhân tiện từ giã lội ngã vườn về nhà. (Tôi hạn chế uống vì chiều Thanh có hẹn với Út sẽ ra nhậu!).

Một trong những mục tiêu lần về này là mang về một ít cành "mai giảo" Thủ Đức, giống đang có tại nhà Út. Tôi đã nói với anh Ân là nhân chuyến đi này, nhờ anh xin và cắt dùm một số nhánh mai để đem về ghép lại lần nữa xem sao. Tôi cứ tưởng đến lần trước đem về mấy nhánh, ghép ra cả chục chỗ mà hầu hết đều không đạt, chúng chết khô, trừ một nhánh duy nhất, nhưng lại quá èo ọt. Lần thứ hai này tôi hi vọng sẽ "di thực" được về vườn tôi giống mai đã không biết bao lần tôi trầm trồ khen ngợi!

Khi đi Thanh chở Na đi trước, tôi thủng thẳng đi sau, định ghé tiệm nào đó có thể mua dây đồng hồ km bị đứt của xe tôi. Tôi đảo vòng quốc lỗ đến cầu Rạch Vồn mà không thấy tiệm nào lớn, nên vòng vào nhà Út. Khi gần đến tôi lại này ý quày lại chùa Phù Ly, phía ngoài có cái cổng kiểu Khmer to đùng mấy lần tôi đi ngang mà chưa vào xem kỹ được. Tôi có mang théo cái máy chụp hình và kính mắt cá, với ý định chụp hình panorama nếu được ở nhà Út, nhưng sao không nhân tiện chụp chùa Phù Ly này? Đã từ hồi còn nhỏ, tôi biết Bình Minh có 2 sóc Miên gần, một là Mỹ Bồn (Rạch Vồn), và hai là Phù Ly (xưa thuộc Đông Thành). Ngôi chùa Mỹ Bồn rất nhỏ nhắn, còn Phù Ly do dân số đông hơn nên chắc chùa cũng kiên cố và to hơn. Khi tham khảo tài liệu, tôi lại biết ngôi chùa này đầu tiên được dựng cách đây đã trên ba trăm năm, và tên người Việt hay gọi là chùa Phù Ly, còn tên Khmer xem tra ở biển trước chùa ghi là Vott Ongkly Riachia Seri Otdam វត្តអង្គុលីរាជាសិរីឧត្តមខេត្ត វិញឡុង, mà đồng bào Khmer gọi vắn gọn là chùa Ongkli, chứ không đọc hết tên chữ dài phía sau là riachia seri odam. Và khi thấy trên mạng có chùa Phù Ly 1 và Phù Ly 2, tôi hoang mang không hiểu chùa mình đến là chùa nào trong hai chùa này?

Ngay lúc tôi vào sân chùa thì có cơn mưa rất nhẹ, trong khi máy ảnh tôi mang chẳng có mang túi đựng. Tồi tranh thủ chụp tấm panorama xong quày ra thì anh Ân điện hỏi đi lạc sao mãi chưa thấy? Tôi nói ghé xem cái chùa Phù Ly rồi mới đến chứ không phải lạc! Tấm panorama này có lấm tấm vết mờ của mấy giọt mưa nhẹ rơi vào kính!

Cổng chùa Ongkli (វត្តអង្គុលី)

Khi tôi đến thì anh Ân, Thiện, Thanh đã đủ cả, còn Út vẫn loay hoay bên giàn âm thanh. Lần này bộ sưu tập "thiết bị" âm thanh có thêm cái máy Akai Nhật đời 1971 (như Út nói, nếu tôi nhớ đúng, và giá khoảng hơn 11 triệu), trông rất sắc nét như còn mới tinh vậy. Khi Út mở các giọng ca bất hủ trước 1975, của những nhạc sĩ cũng trước 75, cả phòng tràn trề một giòng âm nhạc tôi tưởng như mình sống lùi lại trước 1975 vậy! Nó như vừa trẻ, sang, nhưng lại không quá hoa hòe, ồn ào, rỗng tuyếch của nhạc Việt thế kỷ 21 (hay là tôi già quá khi nghe nhạc trẻ quá chăng?)

Chúng tôi ngồi uống đến gần 9 giờ  đêm thì anh Ân trước khi ra về, kịp khều Út ra cắt mắy nhánh mai tôi đã nhờ anh xin. Có lẽ tôi quên nhiều thứ, nhưng nhất định không quên giống mai này, nên nhất thiết phải mang về nhà Cà Mau và ghép chúng!

Tôi về trong choáng váng của mấy lon bia nên ngủ ngay, dù gì ngày mai cần dậy để ra về sớm.

Hôm sau lúc bốn giờ rưỡi tôi đã dây làm vệ sinh chuẩn bị ra về, rồi từ giả má tôi, và con Nga là Thịnh (nó thức khi chúng tôi loay hoay chuẩn bị). Mang nào là cây lê ki ma, nào là túi cam, rồi quảy cái túi đồ, máy chụp hình tất cả chất lên xe để chạy về Cà Mau lúc 5 giờ sáng.

Có vài lý do mà chuyến về tôi chuyển qua chạy đường quốc lộ 1 thay vì đường QL Phụng Hiệp như mọi khi. Ấy là vì đường nhiều ổ gà nhiều khi tôi thắng xe không kịp phải kênh tay lái cứng chạy đại ngang, với cái sốc mà vợ tôi thường nói là coi chừng "cụp xương sống" chết! Vâng, tôi đã nói rồi ở đoạn đầu, có cái gì đó không ổn của ngành cầu đường, với cái kiểu duy tu này, tiền vay bạc hỏi biến thành gánh nợ khổng lồ cho sự hoang phí không thể tha thứ. Đi đường QL 1 có thể tránh cái mệt của ngồi đường xấu này. Thứ đến, tôi có xem thử đi đường tốt này rốt lại lại mau hơn đường kia không, vì đường tốt, tốc độ cao dễ dàng chạy được mà người ngồi không mệt mỏi gì. Ngoài ra, do thời gian nhiều, tôi có thể ghé tham quan vài chùa mà trước nay tôi chỉ nghe qua chứ chưa "mục sở thị" bao giờ: đó là các chùa Dơi, chùa Đất Sét, hai chùa tôi nghe nói nhiều nhất, cũng là điểm dừng chân của đa số các tour du lịch đến Sóc Trăng.

Đến Cái Tắc, khi thấy tôi chạy thẳng, vợ tôi ngạc nhiên hỏi tôi đi đâu. Tôi nói mục đích đi đường quốc lộ thay vì đi như mọi khi.
Chúng tôi đến Sóc Trăng khi đường phố còn thưa người, nghĩa là còn quá sớm để người dân ra đường. Thay vì vòng để theo QL 1 đi tiếp về Cà Mau, tôi lại rẻ vào trung tâm thành phố tìm chỗ ăn sáng. Sóc Trăng có hai cây cầu chính ở trung tâm nối hai con đường một chiều là cầu Cao trên đường XVNT và Cầu Quay trên đường Hai Bà Trưng. Từ ngã rẻ QL1 vào Sóc Trăng, tôi chạy sang bên kia cầu Cao mắt cứ nhìn qua, nhìn lại tìm quán ăn nhưng chưa  thấy. Đảo sọc xuống bùng binh rồi quày lại rảo mất tìm thấy một quán mì chưa có khách nào, chúng tôi vẫn ghé. Một quán mì người Hoa điển hình, người nấu là một người còn trẻ trên ba mươi đang đứng bên bến với tủ chứa thức ăn xoay ra ngoài đường. Tôi gọi tô mì đầy đủ, luôn cả "xương giò to" khi anh ta hỏi tôi có để không. Điều này có nghĩa là có loại "xương giò nhỏ" nữa. Tô mì khô phải có chén súp riêng dễ dùng hơn tô mì nước thường còn nóng hổi, phải vừa thổi, vừa húp súp, và ăn từ từ; còn tô mì này, do trụng sôi xong để vào tô với rau, giá sống.. vốn đã nguội nhanh, chỉ cần chan súp từng muỗng vào và dùng là được. Tại đây hai tô mì và hai li cà phê người ta lấy 90.000 đ. Tôi nghĩ có lẽ giá 35.000/tô, còn cà phê 10.000? để tính ra số tiền đó?

Khi rời quán, vợ tôi hỏi người chủ quán còn trẻ tuổi đường nào đi chùa Đất Sét, anh chủ nói cứ từ quán ra chạy tay phải, qua 2 ngã tư rồi quẹo trái, chạy thẳng một hồi là đến Chùa Đất Sét. Cứ đinh ninh là chắc gần đó chẳng có chùa nào khác nên sau khi chạy một chút thấy một chùa to đùng bên tay phải tôi cứ tưởng đúng là chùa mình tìm, liền ghé vào. Đường rộng, và khuôn viên chùa cũng rộng nhiều cây xanh, bên trong rào có vài chiếc xe taxi, xe hơi đậu bên đường trước một quán nước trong chùa, nhưng rõ ràng là kiến trúc của chùa Khmer. Tôi hỏi thăm anh tài xết taxi phải Chùa Đất Sét là chùa này không, thì nhận được câu trả lời là Không, đây là Chùa Khleang (វត្ដ់ឃ្លាំង)! Dù biết mình sai, tôi vẫn cứ chuẩn bị cái máy ảnh để chụp hình chùa này, vì đây cũng là dịp không phải hãn hữu mới ghé qua, không nên bỏ lỡ để chụp tấm hình! Tôi chụp 14 hình cho hai hình panorama cùng chùa này với vị trí hơi nhích nhau một chút, xong tôi quày ra cùng vợ tôi đi tìm chùa Đất Sét, sau khi xem lại bản đồ thấy ghi hơi nhích tiếp một chút. Vợ tôi nói khách du lịch theo tour thường được giới thiệu chùa Dơi, chùa Đất Sét như là điểm đến chính, nhưng khi tần ngần đứng đọc tấm biển ghi chép lai lịch chùa tôi mới biết Khleang là chùa lớn và có lâu đời. Nếu bạn đã từng nghe qua nguồn gốc chữ Sóc Trăng, hẳn nhớ rằng nó bắt nguồn từ chữ Srok Khleang (Quê, Xứ (có) Kho (lúa). Tôi đã ở một kho như thế của cảng Komponsom vào những năm 1982-83, và kho này có tên Khmer là Khleang Lơ. Kho cất trên độ cao thoai thoải của một đồi, và để phân biệt với những kho nằm ở ngay cảng Komponsom, người ta gọi kho này là Kho Trên (Lơ là ở trên). Chuyến đi 2017 sang đây tôi thấy vật đổi, sao dời cả rồi... Các công trình xây dựng mới đã phá bỏ tất cả những kho bãi xưa, hàng cây dương, và xứ Komponsom tĩnh lặng năm nào... Chữ Khleang đó cùng nghĩa với chữ Khleang tên chùa này.

Vâng cái chùa này gắn liền với địa danh Khleang, tức gắn liền với Sóc Trăng, vậy nó là chùa Khmer chính của Sóc Trăng, ở lịch sử, và cả ở qui mô, kiến trúc, như giới thiệu trong tấm biển tôi ghi lại như sau:

DI TÍCH KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT CHÙA KHLEANG
Chùa Khleang tọa lạc trên đường Tôn Đức Tháng, thuộc khóm 5, phường 6, TP. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trang, được Bộ Văn hóa- Thông Tin- Thể thao (nay là bộ VNTT& Du lịch) xếp hạng là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia tại Quyết định số 84-QĐ, ngày 27/4/1990.
Theo thư tịch cổ của chùa Khleang còn lưu giữ, ngôi chính điện đầu tiên được xây dựng vào năm 1532, và không biết tồn tại đến bao lâu còn ngôi chính điện hiện tại được xây dựng vào năm 1918, lúc đó có một số nghệ nhân từ Campuchia sang tham gia xây dựng.
Quần thể kiến trúc chùa Khleang bao gồm: ngôi chính điện, sala, nhà tăng, hội trường, nhà khách, lò thiêu, các tháp để tro cốt...toàn bộ các công trình được bố trí hài hòa trong một khuôn viên rộng có trồng nhiều cây thốt nốt, với tổng diện tích 19.991 m2.
Trong hai cuộc khách chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chùa Khleang là nơi nuôi chứa, bảo vệ nhiều cán bộ cách mạng và tích cực tham gia nhiều hoạt động trong công tác chính trị, binh vận.
Ngôi chính điện là nơi tập họp nhiều tác phẩm nghệ thuật tinh xảo, toàn bộ các cửa đều bằng gỗ, được chạm khắc công phu, các nhân vật tiên nữ phối hợp các loại hình kỷ hà, hoa lá... được bố cục gọn gàng, với những đường nét uyển chuyển. Bên trong có 12 cột tròn bằng gỗ quý, được sơn mài đen, vẽ hình rồng và hoa lá bằng nhũ vàng theo môtip Trung Quốc. Ngòai ra, còn có các tác phẩm của người Kinh trên bức cửa võng.
Chùa Khleang là một công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ cao, mỗi hạng mục trong chính điện là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo, sự tập hợp và sắp xếp hài hòa thể hiện có sự giao thoa văn hóa giữa 3 dân tộc Kinh- Khmer- Hoa, trong quá trình cộng cư đã biết đoàn kết và học hỏi lẫn nhau để cùng phát triển.

Chùa Khleang (វត្ដ់ឃ្លាំង)


Đã khá đủ cho chùa Khleang, chúng tôi lấy xe ra khỏi chùa đế tiếp tục đi tìm chùa Đất Sét bằng cách tiếp tục đi tới trên cùng đường Tôn Đức Thắng.

Vẫn chú tâm quan sát hai bên, qua mấy cảnh nhà thờ Công giáo thì lại thấy bên tay phải một chùa với cảnh quan cũng rộng rãi như chùa vừa ghé. Khi tôi vào hỏi mấy em bé tên chùa này thì chúng cho biết là chùa Som rông! Cũng khuôn viên rộng rãi, chính điện và nhiều giảng đường, phòng họp, nơi ở của các sư... với nhiều cây xanh. Tên chính thức của chùa là Chùa Pătum (lotus) Wongsa Somrong (បទុមវង្សាសំរោង), lập năm 1725, có diện tích chung đến 43.000 m2. Giống như ở chùa rồi, tôi lại lấy máy chụp bảy hình cho một hình panorama, rồi quay ra.
Có tài liệu nói trước chùa này có cây lười ươi, mà ở tiếng Khmer cây này được gọi là Som-rong. Không hiểu đây chỉ là sự trùng hợp nào đó, hay một vị sư nào đó đã đem cây này trồng vì tên chùa có chữ Som-rong? Xét về lịch sử thì không thể nào tên chùa xuất phát từ chỗ chùa có cây lười ươi, vì nếu thế, cây này phải trên ba trăm năm tuổi, phải là một đại cổ thụ! Ai đã biết tiếng Khmer, và từng đi lại nhiều nơi xứ Chùa Tháp đều biết rằng somrong là một từ tố xuất hiện rất nhiều trong tên các địa danh ở Campuchia, chắc không phải vì nơi ấy có nhiều cây đười ươi nên người ta ghép nó vào tạo thành địa danh xứ đó.



Chùa Somrong (វត្ដ់បទុមវង្សាសំរោង) (វត្ដ់បទុមវង្សាសំរោង)
Lần nữa tôi giở bản đồ tìm chùa Đất Sét, bây giờ nó chỉ ngược lại đoạn vừa qua. Tôi quay lại, chạy chầm chậm mắt nhìn hai bên, một hồi lại đến chùa lúc nãy (chùa Khleang) đã ghé! Quái, hẳn chùa Đất Sét này nằm trong hẽm chăng? Khi mở bản đồ ra thì lại báo đã qua khỏi rồi, nó phải nằm đâu đó giữa hai chùa này. Thấy tôi loay hoay xác định, vợ tôi dùng cách tiện dụng nhất là hỏi ngay người vừa dừng xe chờ đèn đỏ hết. Anh ta nói quay lại chạy tới một chút, quan sát bên tay phải. Chùa này số hình như là 284... (đúng là 286). Tôi quay lại lần nữa, lần này xem kỹ mới thấy ngôi chùa có biển mang tên là Bửu Sơn Tự. Đang có một tấm phông ghi tên Ngô Kim Tòng, có lẽ về ngày giỗ tháng 7 AL của ông, treo vắt ngang phía trước cỗng. Rất khó biết đây là chùa Đất Sét nếu chỉ chạy xe ngang qua, vì cái tên chính ở tấm biển ngay lối vào ghi là Bửu Sơn Tự, và nhà hai bên đều chồm ra và ôm sát vào cái cổng không lấy gì lớn, và khổ nỗi, cổng này sát ngay vách của mặt sau chùa (mặt sau chùa quay ra đường Tôn Đức Thắng). Từ cổng đi vào thấy mặt hông chùa, đi tiếp vào thì tới sân chùa. Theo cửa hông chùa này, tôi chạy xe vào đến sân chùa cũng tương đối nhỏ, vòng đến dựng ở góc trong bên trái, rồi đi một vòng quan sát. Sau khi đã xem chùa Khleang và chùa Somrong với khuôn viên, chùa chính và nhiều nhà giảng, nhà học... rộng rãi, rồi đi tiếp chùa này sẽ thấy ngay lập tức cái khác biệt lớn về diện tích chùa: một bên là cảnh rộng rãi, nhiều cây cối, nhiều điện, phòng ốc của hai chùa Khmer và không gian chật hẹp của chùa này. Và với chùa Đất Sét này, người ta biết chùa với tên Đất Sét hơn tên Bửu Sơn Tự, nên khi tìm chùa để tham quan, bạn nhớ tên ở cổng chính ghi là Bửu Sơn Tự chứ không phải ghi Chùa Đất Sét! Ngay cả người làm ra các tượng đất trong chùa nhiều đến nỗi để lại cái tên Chùa Đất Sét cũng ít ai nghe biết, nếu chưa đến đây lần nào.

Tôi có tham khảo sơ về lịch sử chùa này: nó được lập vào đầu thế kỷ 20 trên diện tích khoảng 400 mét vuông. Người ta xem những cây nến to đùng có thể thắp cháy gần cả trăm năm, hay rất nhiều tượng bằng đất sét của chùa là một trong những điểm đặc biệt của chùa này. Các tour du lịch cũng thường chọn chùa Đất Sét và chùa Dơi của địa phương này cho khách tham quan, chắc vì khách sẽ thích thú để nghe về bốn cây nến ngoại cỡ thắp cả đời người chưa tắt hay vì nhiều tượng bằng đất sét; còn chùa Dơi thì chắc vì những con dơi khổng lồ ngày đeo tòn ten trên ngọn cây ở Chùa Dơi, chứ ít khi nào họ dẫn khách đến các chùa lớn khác như chùa Khleang, Somrong, là các chùa có lịch sử, kiến trúc, qui mô, diện tích nổi trội hơn nhiều!

Tôi chụp một hình panorama tại đây (hỉnh Pano 4). Trong khi đi quanh một vòng nội thất chùa tôi thấy nhiều tượng có biển ghi cẩn thận vì chúng làm bằng đất sét, và khi đi quanh sân ngoài chùa, tôi phát hiện một loài cây hoàn toàn mới lạ với tôi, có tên ghi lại ở một biển nhỏ treo ở gốc cây là cây hồng nhung (cây cho quả, không phải hoa). Lủng lẳng trên cây có rất nhiều chùm trái mang màu đỏ sẫm, và thấy có vài trái rụng khô dưới gốc, với hình dáng trái rất giống với trái hồng Đà Lạt tuy có nhỏ hơn. Tôi dùng tay bốc rời hai trái rụng đã khô dưới gốc định tìm xem có hạt không để lấy về làm giống, rất tiếc là không thấy có hạt bên trong. Tôi hay sưu tầm giống cây lạ, và thói quen này cũng vậy khi thấy cây này. Không thấy hạt thì làm sao để có được giống cây này đây? Khó dùng phương pháp chiết cành, việc này không thể làm được khi mình chỉ là khách qua đường, và tìm lấy hạt là cách duy nhất. Tôi tự nhủ mình về sục Google tìm hiểu thêm loại trái cây còn quá mới lạ với tôi này.

[Tôi đã tra ra cây hồng nhung này, có tên khoa học là Diospyros Philippensis, có gốc gác từ Philippine và Indonesia, Malaysia, bắc Úc Đại Lợi... thuộc loài cây bị xếp vào sách đỏ do nạn khai tác kiệt quệ ở Philippine vì gỗ màu đen của chúng, và chúng lại thuộc loại lâu lớn; một tài liệu khác thì nói là do nạn đốt rừng làm rẫy làm cây này cạn kiệt; nếu cộng hai yếu tố này lại thì chúng bị diệt sạch là điều dễ hiểu!. Trái có thể ăn được, có mùi thơm nhẹ. Hoa đơn tính. Cây cao đến 20 m, đường kính thân có thể đạt 8 tất. Tôi cũng thấy vài bài nói về cây này: một cây ở Vĩnh Long, hai cây ở Tây Ninh, và hàng trăm cây ở chùa Bốn Mặt (Vott Buôn Pres Phek, hay đầy đủ hơn, Vott Ongko Pres Buon Pres Phek វត្តបួនព្រះភក្ដ្រ; đầy đủ hơn, ព្រះអង្គព្រះបួុន ព្រះភត្ត្រ័) ở Sóc Trăng. Riêng cây duy nhất ở chùa Đất Sét thấy có tấm biển nhỏ ghi cây hơn 80 tuổi. Theo tài liệu nước ngoài thì có thể nhân giống bằng hạt hoặc chiết cành; và là loại cây chậm lớn. Xem tên mới hay nó cùng chi với cây hồng Đà Lạt với tên khoa học là Diospyros Kaki, và cả cây thị hay trồng ở Bắc, với tên khoa học là Diospyros decandra và cả cây mặc nưa (Diospyros mollis) của vùng Châu Đốc dùng làm thuốc nhuộm cho loại vải nổi tiếng, cây thì ở vùng cao nguyên mát mẻ, cây thì ở vùng nhiệt đới, đồng bằng. Qua tài liệu bạn thấy đó loại cây này sắp tiệt chủng vì gỗ đẹp của nó (bị xếp vào sách đỏ)!

Chùa Đất Sét, hay Bửu Sơn Tự và cây hồng nhung
Sau khi rời khỏi chùa này tôi xem bản đồ đường đi chùa Dơi, điểm chùa thứ hai trong lịch trình lại hóa ra chùa thứ 4 trong chuyến thăm thú cảnh chùa chiền Sóc Trăng lần này.
Ngôi chùa này nằm hơi dịch ra khỏi ngoại ô, với tên Khmer là Voat Se-rây Têchô Môhatúp (វត្តសិរីទេជោមហាទូប). Khi gần đến cách chừng vài trăm mét bên tay trái tôi thấy có đường rẻ vào,với nhiều xe đậu tưởng là vào lối đó, những người bán hàng mới nói  với tôi, "Đi chùa thẳng tới chú ơi". Tôi lại đi tiếp một chút sau mới thấy cảnh hàng quán bên phải, chùa bên trái. Đặc biệt có chỗ giữ xe hai bánh, có xe điện đưa khách (tôi không tìm hiểu kịp nó đi được tuyến nào), và bên trước chùa có một nhà hàng, cạnh nó có cây cầu qua một kênh nhỏ được chăm chút hơi nhiều, với tấm biển Khu Du lịch Chùa . Tôi tưởng nó dẫn vào một khu du lịch nào đó, nhưng khi bước qua thì không thấy gì khác, ngoài cảnh những dãy có lẽ là phòng nghỉ cho khách ở hai bên đoạn kênh khi chưa qua cầu, cũng với vẻ chăm chút. Sau khi đảo một vòng ở đây tôi mới đi vào cổng chùa, sâu vào sau nơi có nhiều cây xanh có các chú dơi to treo lủng lẳng trên cao. Thời tiết không tốt, nhiều mây nên hình chụp cũng không được tốt, nhưng tôi cũng cố chụp vài ảnh, trước khi trở ra chụp cảnh chính của chùa. Chùa Dơi cũng nằm trên khoảng đất rộng rãi 4 ha, với nhiều cây cối nhất là phía sau chùa, nơi có dơi đeo nhiều ở các ngọn cây cao. Chùa này được cho là được thành lập từ năm 1569, và vị sư trụ trì hiện tại là vị trụ trì đời thứ 19!
Vào khỏi cổng một chút phía tay phải có tấm biển ghi tóm tắt về ngôi chùa này như sau:
Chùa Dơi có tên Khmer là Wath Sê rây tê chô Moohatup, người Kinh và người Hoa  đọc trại Mô ha tup thành Mã tộc hiện tọa lạc trên đường Văn Ngọc Chính thuộc khóm 9 phường 3, TP. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng, đươc Bộ Văn Hóa- Thông tin (nay là Bộ VHTT-DL) xếp hạng là Di tích kiến trúc-nghệ thuật cấp Quốc gia tại Quyết định số 05-1999/QĐ-BVHTT ngày 12/02/1999.
Theo thư tịch cổ của chùa Dơi còn lưu giữ , chùa được khởi dựng từ năm 1569 do ông Thạch Út đứng ra xây dựng.  Khởi đầu chùa được xây dưng bằng gỗ, lợp lá dừa nước, trãi qua nhiều lần tu sửa, đến năm  1960 ngôi chính điện được trùng tu lại bằng vật liệu kiên cố.
Chùa Dơi là một tổng thể kiến trúc bao gồm ngôi chính điện, Sala, nhà tăng, phòng khách, hồ cá, lò thiêu, các tháp để tro cốt... v.v. toàn bộ các công trình được bố trí hài hòa trong môt khuôn viên rộng trên 3 hecta. 
Chung quanh quần thể kiến trúc của chùa là vườn cây cổ thụ, lúc nào cũng có những "chùm dơi" treo mình lủng lẳng trên cành, trông giống như vươn cây trúng mùa trĩu quả. Không ai biết được loài dơi này có từ bao giờ, có thể từ khi khởi dựng chùa hoặc lâu hơn nữa.
Cũng giống như những chùa Khmer khác, chùa Dơi là một công trình kiến trúc có giá trị thẩm mỹ, là nơi tập họp toàn vẹn các yếu tố tạo hình được kết hợp chặt chẽ và bổ trợ lẫn nhau trong một thể thống nhất. Cái đẹp và sức thu hút của chùa Dơi chính là cảnh quan gần gũi với thiên nhiên, một quần thể kiến trúc Khmer hòa quyện với môi trường sống của loài dơi hoang dã.
Tôi đã từng ghé vài chùa Khmer, ví dụ ở Bạc Liêu có chùa Xiêm Cán (tl.1887) mà tên Khmer là Vott Komphir Sakor Prek-chrau (គម្ភីរសាគរព្រែកជ្រៅ), tên mang nghĩa là Xứ Biển Lớn Sông Sâu. Tôi có đọc ở một tài liệu cho rằng Prek Chrau này là tên gọi của Vĩnh Lợi. Lần đầu đến đây một mình, tôi hỏi một sư chùa lập năm nào, nghe xong tôi tròn xoe mắt: cổ đến vậy sao? Sau này được xem qua các chùa ở Sóc Trăng, thậm chí ở quê tôi, ngôi chùa Phù Ly, thấy nhiều chùa đều được thành lập từ rất lâu đời. Tôi nghĩ chắc người ta ghi lại năm lập chùa chứ không phải bản thân của kiến trúc ngôi chùa đang tồn tại được làm từ năm đó, vì các cuộc chiến tranh triền miên của đất nước mình, hay thời tiết khắc nghiệt của vùng nhiệt đới ẩm này, mọi công trình gỗ, gạch thô sơ đều bị hủy hoại gần như tất cả. Vậy các ghi chép về lịch sử chùa của bà con Khmer nếu đúng như tôi đọc được sẽ là đều quí giá biết bao! Tôi từng có lúc để tâm nhằm dựng lại gia phả cho gia đình, khi bắt đầu tìm kiếm số liệu năm sinh, năm mất của tổ tiên vài đời trước, mới biết mình bước vào ngõ cụt không lối ra! Phần lớn người thân hai ba đời trước không để lại một giấy tờ nào về các dữ kiện sinh, mất, quê quán... Những sinh viên, nhà nghiên cứu xã hội có thể đào sâu kho tư liệu vô giá này cho các công trình khoa học của mình. Chỉ cần học một khóa chữ và tiếng Khmer, các nhà nghiên cứu có thể đào sâu hơn.

Tôi kết thúc chuyến nghỉ 2/9 lần này bằng mấy hình panorama chùa Khmer phần lớn tôi mới có dịp ghé lần đầu tiên; biết thêm được cây hồng nhung cũng lần đầu tiên trong đời. Tôi cũng mang về một cây lê-ki-ma vốn không xa lạ gì với tôi ngay từ hồi tôi còn nhỏ (cây này vốn là một trong những cây đã nuôi tôi lớn- má tôi bán trái của chúng hàng ngày để có chút tiền nuôi mấy anh em chúng tôi ăn học), nay tôi sưu tầm lại đem về Cà Mau không phải vì kí ức xưa mà vì đọc thấy những giá trị dinh dưỡng tốt của nó. Tôi cũng mang về lần này 14 nhánh đọt mai Giảo Thủ Đức lấy từ vườn cây cảnh của giáo Út. Từ mấy nhánh này, tôi đem thực hiện cho chừng 20 chỗ ghép cho mấy cây mai vườn. Tôi mong chỉ 1/3 số này có kết quả là tốt lắm rồi...(Việc ghép này dĩ nhiên lấy từ 14 nhát đọt được mang về Cà Mau: có vài nhánh hơi to có nhánh con tôi cũng tận dụng; hoặc nhánh hơi dài tôi chia đôi dùng cho hai chỗ ghép nên tổng số chỗ ghép có khoảng 20 hay hơn... Việc này được làm các ngày thứ Ba, thứ Tư và thứ Năm (3,4,5/9/2018), mỗi ngày ghép vài nhánh, do chỉ rảnh được chút xíu thời gian buổi chiều. Gốc ghép là ba cây mai khác nhau ở vườn tôi: cây mai tứ quí vốn đã được ghép vài cành mai giảo từ anh Ân (giảo gai) có hoa tôi không thích bằng hoa giảo Thủ Đức của Út, và cây mai vàng năm cánh sát nhà Thúy, cây thứ ba là cây mai vàng sát ngoài cổng vào đã có gốc khá to tôi  muốn cải tạo lại để nó cho hoa tốt hơn).
Môt số ảnh Panorama các chùa đã tham quan
Chùa Dơi
Doi Pagoda, Soc Trang Province, Viet Nam
Chùa Khleng

Khleang Pagoda in Soc Trang Province, Viet Nam
Chùa Som-rong

Somrong Pagoda, Soc Trang Province, Viet Nam
Chùa Đất Sét
Xem Chùa Đất Sét
Chùa Phù Ly
Xem Chùa Phù Ly
Cuối cùng, tôi xin ghi lại các điểm đã đến ở Sóc Trăng trên bản đồ Google như sau.