Tuesday, October 30, 2012

Từ Đá Dựng đến đền Thoại Ngọc Hầu ở Thoại Sơn

Núi Đá Dựng nằm sát biên giới Việt Nam- Campuchia tại Hà Tiên, bên phải đường nối từ Hà Tiên ra cửa khẩu biên giới.
Tôi biết Đá Dựng qua một bài thơ trong Hà Tiên Thập Cảnh, và bài liên quan đến núi này là Châu Nham Lạc Lộ. Sau này khi đọc tác phẩm Nghiên Cứu Hà Tiên của nhà biên khảo Trương Minh Đạt tôi tin là Đông Hồ và những người theo ông nghĩ Châu Nham Lạc Lộ nói về núi Đá Dựng là sai, và cái sai này có thể bắt đầu từ khi Đông Hồ, cũng là một nhà nghiên cứu lớp tiền bối của đất Hà Tiên đưa ra trong một bài báo của ông hồi nửa đầu thế kỷ 20. Dù sao, với văn chương xưa người ta không chú trọng sự rạch ròi địa lý mà chỉ ngâm vịnh cho có vần điệu và ý tứ, phần mô tả của thơ không đủ để ta kết luận một điều gì.

Xem Đá Dựng ở bản đồ lớn hơn
Vả chăng với khung cảnh xung quanh là đồng cỏ hoang hóa của thế kỷ thứ 18 còn đầy tôm cá nguyên sơn đó, việc vô vàn chim chóc sau khi đi ăn xong gom tụ về các núi để ngủ là chuyện quá bình thường, và bất kỳ núi nào trong các núi Hà Tiên cũng có thể là điểm đậu đó. Vậy thì việc Đá Dựng có phải là cảnh của Châu Nham Lạc Lộ hay không là không quan trọng. Điều đáng nói là ở chỗ ngọn núi đá vôi Đá Dựng này có rất nhiều hang động, rõ ràng cấu tạo bởi sự xâm thực của nước qua một thời gian lâu dài, đã hình thành các hang động này.
Hiện nay, ngành du lịch đã mở một con đường đi vòng quanh núi này, nối liền 14 động tiêu biểu đáng xem nhất để đưa vào chương trình cho khách tham quan. Ngày Thứ Bảy và Chủ nhật 20-21/10/2012 tôi đã bỏ ra một ngày rưởi để tham quan một số điểm thuộc Hà Tiên, Châu Đốc và An Giang, và điểm đầu tiên chính núi Đá Dựng này.
Tôi khởi hành chiều 20/10 sau khi dùng cơm trưa xong. Quảy theo cái túi đeo lưng nhỏ cùng vài thứ vật dụng theo hờ, tôi đã theo QL 63 về Kiên Giang rồi theo QL 80 về hướng Hà Tiên. Cơn mưa như trút nước ập xuống khi tôi vừa qua phà Tắc Cậu, và kéo dài mãi cho tới khi qua khỏi Hòn Đất khá xa. Do phải chạy chậm lại, ở đoạn này tôi đã chạy trong màn đêm rồi, và tự hỏi mình nên nghỉ lại khoảng Hòn Đất hay Kiên Lương? Tôi cứ cắm cuối chạy cho đến Kiên Lương, nơi không bị ảnh hưởng gì của trận mưa. Đồng hồ đã trên 8 giờ tối, tôi quyết định ăn cái gì đó tại thị trấn này rồi tìm nhà trọ hay khách sạn nào đó nghỉ.
Sau khi ăn xong và qua hỏi han mấy đứa bé chạy bàn, tôi chạy trờ tới khỏi chỗ ăn chừng trên trăm mét, ghé vào nhà nghỉ Kim Điền (60, QL 80, Kiên Lương- Phone: 3858 555) nghỉ với giá 170.000  đ/ đêm. Phòng ốc chả tệ mà cũng không sang, có máy lạnh. Tôi mệt nhoài nên tắm rửa xong là lên giường ngủ một giấc đến giờ báo thể dục (4:15' sáng).
Sáng ra, sau khi làm vệ sinh, tắm rửa tôi xuống thang  lầu trả phòng khi người trực còn ngủ. Tôi phải gọi dây để trả, và dắt xe ra đi khi Kiên Lương còn thưa người.
Sau khi qua cầu Hà Tiên, tôi theo thẳng QL 80 đi về phía cửa khẩu, ở địa phận xã Mỹ Đức, và đi chừng khoảng 3,7 km tính từ cầu Hà Tiên và khi gần sát Thạch Động như vẫn chưa đến đó, thì có con đường nhựa rẻ phải có bảng chỉ đường về núi Đá Dựng. Tôi cứ theo đường này chạy qua mấy ngọn núi nhỏ của cụm núi Thạch Động này đến ngọn núi trong cùng của con đường này là đã đến núi Đá Dựng.
Bạn cần lấy vé tham quan 5.000 đ/khách, nếu đi xe hai bánh cộng thêm 2.000 đ tiền gửi xe nữa là có thể tự do lên tham quan. Có lẽ nên nhắc thêm đối với người đi tham quan hang động: bạn nên thuê đèn pin nếu muốn xem xét kỹ càng các hang hốc này hơn. Riêng tôi chỉ muốn đi một vòng để có khái niệm chung chứ không chú ý lắm đến chi tiết các hang động này nên đã không thuê đèn pin mang theo, chỉ mua chai nước suối theo để giải khát. Cần nói là do đường tham quan là đường dốc núi, khi lên, khi xuống nên vận động cơ bắp rất cao, chỉ chừng 15 phút đi bạn đã toát đầy mồ hôi. Nếu đi cả con đường, và nếu bạn không dừng lại lâu ở đâu đó trong các hang động này hay nghỉ ngơi nhiều, thì thời gian đi hết mất chừng 1 giờ và tùy  người, có thể mồ hôi đủ làm ướt hết áo mặc!

Hình 1: Sơ đồ 14 hang động tại núi Đá Dựng
Tôi đã chụp hình tấm bảng hướng dẫn đặt sá chỗ đường lên tham qua, nó cung cấp chi tiết các hang động như sau:
TÊN HANG:
1. HANG MẸ SANH
2. HANG LÊ CÔNG GIA
3. HANG BIỆT ĐỘNG
4. HANG BỔNG LAI 
5. HANG 
6. HANG THẨN KIM QUY
7. HANG 
8. HANG
9. HANG KHỔ QUA
10. HANG TRỐNG NGỰC
11. HANG XÃ LỘC KỲ
12. HANG CỔNG TRỜI
13. HANG THÁC BẠC
14. HANG CHỈ HUY
CHIỀU DÀI GIỮA CÁC HANG
- Chân núi - Hang 1 22 mét
- Chân núi - Hang 2 89 mét
- Hang 2 - Hang Dơi 12 mét
- Hang 2 - Hang 4 107 mét
- Hang 4 - Hang 3 76 mét
- Hang 4 - Hang 5 119 mét
- Hang 5 - Hang 6 98 mét
- Hang 6 - Hang 7 35 mét
- Hang 7 - Hang 8 78 mét
- Hang 8 - Hang 9 42 mét
- Hang 9 - Hang 10 45 mét
- Hang 10 - Hang 11 49 mét
- Hang 11 - Hang 12 20 mét
- Hang 12 - Hang 13 42 mét
- Hang 13 - Hang 14 155 mét
- Hang 14 - Chẳn Núi : 161 mét
Có lẽ là quá nhiều để bạn có thể xem hết các hang. Thực tế du khách thường chỉ xem loáng qua một số hang, đặc biệt đối với những ai còn nặng lòng tín ngưỡng có thể đốt nhang lạy Phật, vì ít nhất tại hai hang tôi thấy có tượng Phật, rõ ra là một thứ tín ngưỡng ngây ngô kết hợp bởi sự u mê và tôn giáo. Thật ra có thể nói tại hầu hết các ngọn núi mà tôi có đi qua tại vùng này, lúc nào cũng thấy dáng dấp của tôn giáo, và người ta đi núi để lạy Phật chứ không phải để tham quan thắng cảnh! Còn đâu những ý tưởng thanh thoát của những bậc chân tu ngày xưa, họ lên núi để tránh cái ồn ào của thế sự, muốn được tĩnh yên để trầm tư mặc tưởng những ý nghĩa cao siêu của tôn giáo. Ngày nay, chính những nơi này đã cuốn sự ồn ào giả dối của đời thường lên tận chỗ núi non, làm vẫn đục và méo mó đi hình ảnh của tôn giáo. Ở Vồ Bò Hong, chỗ chót vót cao nhất của núi Cấm mà theo số liệu ghi chép có độ cao 716 mét, có một tượng dáng vẻ như là Quan Công, nhưng điều đáng nói là cái thùng công đức to tướng cạnh bên Ngài! Tôi cũng đứng bên đó, nhìn cặp vợ chồng trẻ cùng đi một lượt với tôi, có vẻ như họ đang cầu nguyện điều gi, vì mọi nơi có Phật họ đều dừng để thắp nhang. Tôi không tiện hỏi, chỉ nhìn họ, và mong sao mình có niềm tin như họ đang có.
Bạn chú ý tượng được ghi là Ngọc Hoàng Thượng đế
(Hình tôi chụp nhân một chuyến đi Núi Cấm, sẽ kể lại sau)
Cử a khẩu Hà Tiên  
Chuyến đi này tôi cũng bỏ ít thời gian để đến cửa khẩu Hà Tiên và ghé quán cà phê cách cổng cửa khẩu chừng 100 m. Một trung niên và một thanh nhiên ngồi sẵn ở đó, tôi ngó quanh quất sau khi gọi li cà phê đá, nhằm tìm cách hỏi chuyện một trong hai người.  Cuối cùng tôi chọn người thanh niên, có lẽ khoảng 24-25 tuổi, nước da năm đen, nhưng gương mặt dễ thân chứ không xa lạ. Nhìn thanh niên ăn mặc tề chỉnh, áo bỏ trong quần và mang đôi giày đen bóng, tôi nghĩ có lẽ một "thương gia" vùng biên hay đại loại như thế. Mặc kệ, tôi cứ hỏi theo quan tâm của mình, rằng nếu tôi muốn đi sang Campuchia chơi, có thể xin giấy hợp lệ qua bên kia và đi bằng xe gắn máy không?
Người thanh niên nhanh nhẩu trả lời và ngoài dự kiến của tôi, anh ta nói như thể là anh ta sẽ cấp giấy cho tôi. Anh ta nói, "Được chứ. Con đảm bảo chú làm thủ tục 2 đầu với lệ phí 100.000 đ (nghĩa là cửa khẩu VN 50.000 đ và bên bạn 50.000 đ.). Xong chú cứ tự do đi sang bên đấy, xong công việc thì về lại đây!"
Tôi hỏi thêm, "Có thể về cửa khẩu khác không?" Hắn lắc đầu.
Tôi hỏi có cần hộ chiếu không, thì được cho biết chỉ cần giấy chứng minh nhân dân.
Thế thì quá dễ, nhưng tôi nghĩ đây không thể là thủ tục bình thường giữa hai nước với nhau, vì ít ra người ta phải đóng cái dấu gì đó vào hộ chiếu như biết bao lần tôi đã đi ngước ngoài thủ tục đòi hỏi! Nhưng thôi, thông tin tôi cần chỉ có thế, nên sau khi hỏi xong tôi cám ơn cậu ta và chào để đi tiếp. Tôi thử hỏi thêm xem suy nghĩ của mình có đúng không, "chắc chú em là cán bộ cửa khẩu phải không?" và người thanh niên xác nhận là đúng.
Một đoạn biên giới bên giòng kênh Vĩnh Tế
Mục tiêu thứ hai tôi đi là đi một đoạn biên giới Campuchia và Việt Nam nơi con kênh Vĩnh Tế nằm gần biên giới Campuchia nhất. Nó bắt đầu từ chỗ ngã ba kênh Vĩnh Tế tạo bởi con kênh đào nối kênh Vĩnh Tế đến Hà Giang và thẳng ra biển. Từ  ngay chỗ ngã ba này (gọi là Đầm Chít) đến khi kênh Vĩnh Tế gặp con sông tự nhiên của bên Campuchia là sông Prek Tonhon Chas, còn tên Việt Nam cũng cùng con sông ấy tên Việt là Giang Thành, đoạn biên giới này chỉ dài khoảng 5,4 km, và điểm gặp sông Giang Thành cũng là nút kết thúc của kênh đào Vĩnh Tế. Có sự trùng hợp tôi phát hiện ra chỉ sau khi đi xong về xem lại tài liệu: đoạn đường 5,4 km này chính là đoạn kênh cuối cùng sau biết bao nhiêu đợt đào kênh kéo dài trong năm năm và tổng huy động dân công đào lên đến 80.000 người!  Riêng phần cuối này, không biết có phần nào thuộc "khúc xương" khó nuốt nên cù cặn lại hay không, dài chỉ 1.700 trượng (5.440 m), được 25.000 dân xâu Việt và Miên đào từ tháng Hai năm 1824 đến tháng 5/1824 thì xong. Việc có đoạn nào trong phần này thuộc tổng chiều dài 7.575 tầm (2.56mx 7575=19.392m) đất cứng làm việc đào kênh bị nhiều trở ngại nhất, có nghĩa là mồ hôi và xương máu của dân công đổ ở đây nhiều nhất hay không thì không thấy ghi chép. Ngày nay đọc lại Văn tế nghĩa trủng mà Thoại Ngọc Hầu đã đọc trong lễ cải táng các nghĩa sĩ đã bỏ mình trong công cuộc đào kinh này mới thấm thía cái tình cảm của người cầm quân này. Con kênh được hoàn thành có góp phần giữ gìn vùng biên cảnh quốc gia và sự an sinh của người dân, nhưng cũng có nhiều phu đào kênh chết khi thi công thủ công vì bệnh, tai nạn... và số này không phải là ít. Họ được chôn tạm ở đâu đó gần nơi họ đào kênh trên tổng chiều dài non một trăm cây số, rồi sau đó được cải táng đưa về chôn tại xung quanh lăng Thoại Ngọc Hầu nơi sau ngày chính ông cũng nằm lại đó. Tháng 9 năm Minh Mạng thứ 9 (1828), tức 4 năm sau khi kênh được đào xong, nhân dựng bia tại lăng này cho vợ ông, thì cũng là lúc bài Tế Nghĩa Trủng Văn đã được được ông đọc truy điệu các chiến binh vô danh này.
Một viên tướng như Thoại Ngọc Hầu, quan khai quốc công thần đúng nghĩa, đã không hổ uy danh đến ngàn năm sau cho con cháu người dân Việt, nhất là những người miền Nam chúng ta, người đã để lại quá nhiều kỳ tích, một tấm gương kiên trung tận tụy suốt đời. Vậy việc tôi đi chiêm ngưỡng công trình gần hai trăm năm của Người cũng đáng lắm chứ! Càng khâm phục hơn khi biết ông đã đọc lời truy điệu cho những oan hồn vong thân cho xã tắc,
Trời xanh thẩm mồ hoang lợp lợp
Trăng soi mờ mấy lớp bia tàn
Mây che bao nắm đất vàng,
Sương sa sao giọi, gò hang đổi dời
Máy tạo thể trò chơi lũ trẻ,
Bóng quang âm như kẻ qua đường,
Lúc sanh khi lớn không tường
Là trai hay gái khó lường họ tên
Hiền hoặc dữ, hư nên nào rõ
Cha anh đâu, còn có cháu con
Việc ngươi ta hiểu chưa tròn 
Xưa làm chi đấy, hãy còn nghĩ suy!
Đào kinh trước mấy kì khó nhớ,
Khoác nhung y chống đỡ biên cương
Bình man máu nhuộm chiến trường
Bọc thây da ngựa gửi xương xứ này...
Trích Tế Nghĩa Trủng Văn 
(祭義塚文
天涯落落客塚纍纍
雲封古基月弔殘碑
星霜遵遞陵谷變移
光陰過客造化小兒
汝生何代汝長何時
爲男爲女姓甚名誰
父兄何在子孫何之
或善或惡自昔所爲
既不爾識胡勞我思
憶昔鑿河不知其期
充邊之户平蠻之師
沙場血戰襄以馬皮 ...)
Tôi đã rẻ vào cây cầu gọi là Đầm Chít, là chỗ trên bản đồ xem như biên giới cặp sát luôn con kênh Vĩnh Tế. Chị chủ quán nước tôi ghé uống chỉ quá đó chừng trăm mét về hướng Châu Đốc cho tôi biết chỗ nhà chị thì biên giới còn cách đến 1.200 mét, nhưng ngay chỗ cầu đàng kia chỉ còn có 300 mét mà thôi! Quả vậy suốt tuyến kinh Vĩnh Tế này không chỗ nào biên giới sát con kênh như chỗ Đầm Chít này (tôi nghi tên này bị viết sai, đúng ra có lẽ phải là Đầm Trích/ hay Chích, tên một loài chim hay sống ở chỗ lung trũng đầm lầy). Tôi đã chạy qua cầu Đầm Chít, đi hết đoạn đường này. Phía bên này kênh Vĩnh Tế có nhiều nhà dân VN, nhưng bên kia vắng vẻ đến mút mắt, có lẽ người Khmer không thích cư trú sát vùng đệm này như bên VN mình. Tôi đã đi hết 5,4 km cho đến chỗ kênh Vĩnh Tế nối vào sông Giang Thành thì con đường cũng hết ở chỗ một đồn biên phòng nằm dưới những tàn cây xanh che kín ánh nắng, là chỗ tôi cũng phải quày lại vì đã hết đường.

View DamChit.kml in a larger map
Đoạn kênh Vĩnh Tế này nằm rất gần biên giới, là đoạn kênh đào đợt cuối cùng năm 1824!
Ngã ba vào Đá DựngCảnh chụp từ Đá DựngMột trong các hangTrên đường Đá Dựng
Một số cảnh khi thăm hang động trên núi Đá Dựng 
Bảng báo biên giới bằng ba ngôn ngữ (tiếng Khemer: Khse Brum-đen là Đai biên giới)Cống ngang kênh Vĩnh TếK. Vĩnh Tế chụp từ cốngXóm dân trên bờ Vĩnh Tế
Một số hình chụp đoạn biên giới sát kênh Vĩnh Tế
Tham quan núi Tức Dụp
Cái tham lam của tôi là muốn xem được nhiều chỗ trong khoảng thời gian rất hạn hẹp. Cho nên có khi có chỗ phải bỏ một ngày trời nếu muốn thăm cho hết các cảnh cần xem lại được tôi cắt gọn còn vài tiếng. Vì tôi phải tranh thủ tối đa để còn xem chỗ khác, và để còn phải về nhà vì lần này thời hạn chỉ là một ngày rưỡi cho đến bốn chỗ tham quan, mà bốn chỗ này cách nhau xa lắc!
Đồi Tức Dụp thuộc huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, là nơi trong lần đi trước lên núi Cấm lúc quay về tôi đã bị lạc tại đây. Số là thay vì từ núi Cấm về hướng Tri Tôn tôi tìm đường về cầu kênh Tám Ngàn (cái tên này nghe từ lâu rồi, ngày xưa là phà kênh Tám Ngàn), hay vì nó nằm sát Vàm Rầy, có người còn gọi là cầu Vàm Rầy. Biển báo vẫn ghi tên là cầu kênh Tám ngàn.  Vừa qua cầu Cây Me con đường cặp kênh quá nhỏ bé tôi không để ý, chạy trờ đến con đường song song kế đó, là đường các xe hơi lớn phải đi vì đoạn đường sát sông cấm xe lớn. Đáng lẽ sau một đoạn tôi phải rẻ phải, thì tôi cứ chạy thẳng, vừa khi đó một cơn mưa như thác đổ ập xuống. Lẽ ra nếu trời không mưa, tôi đã mở điện thoại xem lại bản đồ điều hướng để xác định là mình đi đúng đường, nhưng do mưa quá không thể nào mở máy được, đành cứ thế chạy mãi  cho tới khi tôi đến chỗ nó nhập vào con đường cặp kênh Mặc Cần Dưng nối thẳng về Ba Thê! Tôi than thầm (đoạn này hầu như đường bị hư nát, chạy rất chậm nên thà vòng về đường Tám ngàn tuy xa hơn về km, nhưng do tốc độ chạy tốt nên vẫn nhanh hơn) trước khi đảo lại tìm đúng đường ra kênh Tám Ngàn. Sai lầm này làm tôi phí chừng 16 km x 2 (đi và quày lại), vị chi là 32 km lẽ ra không phải bị phí bỏ thời gian cho ngần ấy đường. Tuy vậy tôi để ý thấy mình có chạy ngang đồi Tức Dụp, với nhiều lần thấy tấm biển chào Khu Du Lịch Đồi Tức Dụp kính chào quí khách!
Dĩ nhiên lần đó tôi không ghé, còn lần này thí đích thị nó nằm trong lịch trình của tôi, và sau khi xem xong đoạn kênh biên giới tôi đã hướng thẳng về đây.
Nếu Đá Dựng là núi với các hang đá vôi bị nước bào mòn tạo ra các hang động thì tại núi Tức Dụp này về cấu tạo núi hoàn toàn khác hẳn. Hẳn là núi đá này đã được tạo ra sau một trận rún mình mạnh mẽ của lớp vỏ trái đất, làm cho núi nham thạch tại đây bị cắt gảy thành vô vàn khối vụn. Và chúng nằm chồng chất lên nhau sau cái rúng động dữ dội kia, và điều nó để lại là những tảng đá nằm chồng chất lên nhau với vô số những hang hốc, kẻ hở bên trong nó. Vì là núi đá hoa cương cứng, nên cũng có rất ít đất, cho nên núi này cũng ít cây to, chỉ có chủ yếu là cây thấp và dây leo. Vì lẽ đó mà vào ban ngày, nếu ta leo núi trong cái nắng hầm hập, chắc khó ai có thể tham quan được nhiều.
Khi tôi vào đến ngang trạm bán vé, nhìn vào trong vắng vẻ, tôi tưởng người ta bán ngay tại chỗ kiểm soát. Khi tôi đến chỗ kiểm soát, cậu thanh niên bảo tôi quày ra mua vé. Tôi tròn xoe mắt nói, "Tui đâu thấy ai?" Hắn nói Có chứ!. Khi tôi nhìn lại thì thấy cô bán vé ngồi tự nhiên ở đó với tờ báo trong tay. Hăn nhiên là khi nãy do không có khách, tôi ta đã nằm khuất bên dưới, bây giờ mối ngồi lên đây.  Tôi bèn quày ra mua vé và đem xe đi gửi ngang trạm vé, rồi lội bộ vào trình vé cho anh thanh niên khi nãy kiểm vé.
Tôi đi thẳng vào chỗ đường dẫn lên núi sau khi hỏi cậu ta có gì để xem? Thì có hang động trong đó! Hắn nói gọn bơ, làm như tôi đã biết hết những gì có tại nơi này. Không sao, tôi cứ đi thẳng vào để lên xem hang động nữa vậy (sau khi đã xem no nê ở Đá Dựng, như bạn thấy).
Có ba em bé đen đúa người Khmer tự nhiên chạy theo tôi. Chúng không phải là trẻ ăn xin, và khi tôi hỏi chuyện này nọ thì chúng nhanh nhẩu trả lời. Tôi biết mình đang vớ được mấy em dẫn đường rồi đây, nên hỏi chúng có thể xem gì, đi đứng thế nào, nếu xem nhiều thì mất bao lâu. Nhìn bản hướng dẫn, nhìn những chỗ đánh dấu trên triền núi, và nghe lời kể của mấy em bé Khmer, tôi biết mình có thể bỏ cả ngày để tham quan các hang đá tại đây, được lồng ghép với những đơn vị bộ đội thời chiến tranh, những trận đánh, ... Mấy đứa bé gợi ý tôi chú đứng chỗ này chụp đẹp, chú đứng đi con chụp cho.. Xong chúng chỉ tôi thay vì đi đường cây cầu leo lên theo đường ngoài trời, thì nên đi theo ngõ các hang đá để mát hơn. Có lúc phải ép mình, nhưng nhiều hang lại rộng lớn và trong một số hang, có hình các anh bộ đội đang ngồi hoặc đang họp... Tôi chụp vài pô hình tại đây rồi theo mấy em bé dẫn lên một cửa hang ra ngoài trời. Tôi nhìn lại thấy lối đi xi măng ban nãy nằm ngay phía dưới mình, còn mấy em bé có lẽ thấy chuyến tham quan tôi chỉ có thế, nên chỉ tôi lối đi trở xuống. Tôi theo chúng về chỗ cây cầu thang lúc nãy có chụp hình, chuẩn bị theo các nấc thanh để xuống núi thì lạ thang tất cả chúng đều đứng lại. Tôi ngạc nhiên hỏi sao không đi tiếp, thì chúng nói chú đi đi, chúng cháu không đi theo đâu.. Rõ ràng là chúng sợ các bảo vệ ở đây rầy la gì đó có lẽ. Riêng tôi thấy bọn chúng cũng hăng hái theo tôi, chỉ đường, giúp chụp hình v.v.. mà không đòi hỏi gì nên nói với chúng, "Vậy chú cho chúng mày ít tiền uống nước chơi". Tôi lấy ba chục ngàn, nói cho mỗi đứa 10.000 đ uống nước. Chúng cũng nhận tự nhiên và nói cám ơn. (bây giờ tôi hiểu tại sao chúng đi theo tôi).
Nhìn phía bên trái lối xuống có mấy dãy nhà tôi liền rẻ qua hướng đó. Thì ra đó là nhà trưng bày các hiện vật chiến tranh, gồm hình ảnh, súng đạn, v.v.. Tôi chụp một vài hình cho có, chứ chiến tranh thì tôi quá biết rồi, có thích thú gì mà xem.
Cuối mấy căn nhà đó là một quán cơm, tôi thấy có bàn khách đang dùng cơm nên tẻ sang đó định tìm nước giải khát. Tôi gọi lon bia và mấy con tôm khô ra ngồi uống để nghỉ chân, (tôi cử ăn ngày chủ nhật, và hạn chế ăn ngày thường, đang cố ghìm thể trọng trở về 56 kg nhưng xem ra phải còn quá khó!).
Tóm lại hai núi hang động cũng là hai địa điểm du lịch, một của Kiên Giang là núi Đá Dựng và một của An Giang là núi Tức Dụp là hai núi có kết cấu hoàn toàn khác nhau, và được hình thành qua các tác nhân cũng hoàn toàn khác nhau. Một là hang đá núi vôi, do sự bào mòn của nước tạo thành các hang động đa dạng thường thấy ở nhiều núi đá vôi khác, và một là do phá vỡ lớp núi đá thạch anh có lẽ vì một rung động lớn của môt đợt động đất hay rung động tạo núi đã phá vỡ lớp đá thạch anh đã có sẵn, làm chúng vỡ vụn đùn ép nằm sắp lớp lên với nhau với nhiều kẻ hang giữa những tảng đá đó tạo thành hanh động của đồi Tức Dụp.
Lối vào khu du lịchAo nước tại khu Tức DụpPhiến đá chồng lên nhauLên đồi Tức Dụp
Ba em bé KhmerTên ba em béSơ đồ khu du lịch Sơ đồ khu du lịch
Một số hình chụp tại khu du lịch Tức Dụp. Ba em bé Khmer tên là Chiết, Chăm và Thi. Tôi nhờ em bé trai nhỏ viết tên chúng bằng tiếng Khmer để tôi xem, Chăm viết ngay, nhưng xem ra trình độ chỉ lớp 1 hoặc 2 về chữ Khmer (tuổi của chúng cũng cỡ lớp này). Chữ Chiết thay vì dùng phụ âm vần ô (ជ​​​​ Chô) cộng nguyên âm ា ia, và kết thúc bằng phụ âm to ត thì nó viết phụ âm vần o (ច Cho), thành ra nguyên âm đi với nó đọc thành nguyên âm a. Rút lại tên này đọc ra Chat chứ không phải Chiết! Tên Chăm thì đúng, còn tên Thi lại bị một lỗi nguyên âm (nguyên âm phải là i ី thay vì ia​​ ា như chúng viết), làm tên cô bé thành Thia!           
Về Đình Thoại Ngọc Hầu
Tôi đã đọc quyển Thoại Ngọc Hầu và được biết con kênh qui mô đào thủ công đầu tiên của Nam bộ này trước khi người Pháp vào và đào vô số kênh thêm để khai thác đồng bằng sông Cửu Long, là con kênh của Thoại Ngọc Hầu đào. Con kênh này khi đào xong được vua đặt tên cho là Thoại Hà để nhớ đến công lao của vị công thần này. Hơn thế nữa, có một ngọn núi ven con kênh này, vốn được gọị bằng tên dân dã là núi Sập cũng được nhà vua đặt tên lại là Thoại Sơn.
Thoại hà là con đường tắt đi từ Đông Xuyên (tên xưa của Long Xuyên) sang Rạch Giá. Con kênh này giúp việc đi lại tiện lợi, vừa phục vụ kinh tế, thương mãi, nông nghiệp lẫn quân sự. Cũng giống như kênh Vĩnh Tế, Thoại Hà là con kênh không kém phần quan trọng, tuy về qui mô có nhỏ hơn kênh Vĩnh Tế nhiều.
Trong lần đi trước đây đến núi Sập này, tôi đã đứng bên bờ Thoại Hà nước chảy xiết, ghe đậu dập dìu, còn phía trên bờ là con phố đông đúc của huyện Thoại Sơn. Trong bi ký Thoại Sơn được dựng tại sơn miếu cũng do ông dựng, sau này là đình thần, ta đọc những lời mô tả mới thấy tất cả những điều ấy hoàng toàn sinh động từ thuở mới đào, và ngày nay càng rõ nét hơn nữa! Tuy nhiên lần đó vội quá tôi chưa ghé qua đình này. Vậy lần này trên đường về tôi nhât định phải ghé qua, trước nhất là chiêm ngưỡng ngôi đền xưa, thứ đến xem qua bia Thoại Sơn vốn đã được tỉ mỉ ghi chép và dịch lại trong cuốn biên khảo của Nguyễn Văn Hầu mà tôi có đọc qua.
Những trái núi lẻ tẻ này không cao, tuy nhiên giữa cảnh đồng bằng này thỉnh thoảng lại nổi lên trái núi, từ núi Ba Thê, rồi núi Sập đã điểm tô cho sông nước và ruộng đồng thêm hữu tình.
Khi đảo một vòng ngay sau khi xuống cầu bắt ngang Thoại Hà (lạ thay, trong các sắc chỉ của vua ban thì từ Thoại Hà được đặt, mà nay người ta ghi là Thoại Giang, tôi không hiểu vì sao người ta đã sửa tên lại?) chạy theo con đường cặp theo sông cho đến chỗ cuối của núi tôi theo một con đường quay vào phía núi, rồi từ đó vòng trở ra cho đến hêt núi vẫn không thấy đình. Tôi ghé quán nước, hỏi một cháu bé nó nằm ở đâu? Cô bé chừng 15 tuổi dẫn tôi ra đường chỉ trờ tới trước chắc chừng 100 m, bảo nó ngay chỗ mấy cây dầu to kia!
Sau khi dùng nước xong tôi liền đến đình. Có một lớp học sinh đang tập luyện bài vũ tập thể, và khó chịu hơn, có một nhóm người tụ tập nói chuyện om sòm, xem ra là những người trong các túp nhà cất mất trật tự hơi xa phía sau, bên phải đình, tạo thành cảnh hêt sức đáng tiếc cho một nơi danh thắng cần sự uy nghi như đình này!
Tôi chụp mấy hình bên ngoài rồi đi thốc vào bên trong bằng cửa bên hông, vì cửa trước không mở. Một chị đứng tuổi thấy thế mời tôi vào xem tự nhiên, và hiển nhiên đấy là điều tôi muốn, nên cám ơn và đảo xem một vòng nhỏ quanh bia đá trên trăm năm có bài bi ký đó. Chữ nhỏ quá, và đặt để thờ cúng nên phía trước còn bị áng mất, khó có thể chụp được hình ở cự ly có thể đọc chữ được. Thôi đành chụp lấy ảnh chung, gọi là để làm kỷ niệm.
Đình Thoại Ngọc HầuBia đá dịch bia Thoại SơnBia Thoại Sơn gốcNhà nhớn nhác xung quanh
Tôi ra về sau khi cám ơn sự chỉ dẫn của chị ta, một người coi sóc ngôi đình thế hệ thứ ba (ông ngoại, ba chị rồi đến chị đều là người chăm quản nơi này).
Có một sự thật tôi hơi giật mình sau khi trở về nhà và xem lại bản phiên âm và bản chữ Hán của bia này. Người ta (nhà xuất bản) đã cố tình lượt bớt đi ở đoạn thứ hai của bia văn này. Tôi không tin đó là lỗi của nhà in, tôi cũng không tin là lỗi của tác giả Nguyễn Văn Hầu, vì qua cách làm việc ở vài tác phẩm của ông mà tôi có biết, đây là một con người học thuật nghiêm túc. Vậy chỉ có thể là cái mà ngày nay ta gọi là tế nhị. Sự tế nhị đến mức làm sai lệch sự thật lịch sử này chỉ có ở thời đại của chúng ta!
Đây, đoạn chữ Hán,
跡夫此山古屬番界俗名垃山自先聖朝
開拓南服方入版圈然而野樹蒙茸空爲
麋鹿巢穴其勝跡埋沒又不知幾何年矣
Phiên âm trong sách đã bỏ qua nhiều chữ, ghi lại như sau,
Sơn cổ, tục danh Sập sơn. Nhiên nhi dã thọ mông nhung, không vi mê lộc sào huyệt, kỳ thắng tích mai một, hựu bất tri kỉ hà niên hĩ.
Rõ ràng người ta cố tình bỏ qua mấy chữ tô đỏ. Phần dịch tiếng Việt đúng theo phần phiên âm, tức đúng theo bản đã có lượt bỏ đi một phần.
Người ta hành xử với lịch sử,  một ngành khoa học theo cách như vậy đó!
Phát hiện này chỉ làm tôi tôi thêm chán ngán cái nền học thuật này.

No comments:

Post a Comment