Thursday, June 8, 2023

Vài mẫu chuyện về Má tôi

Từng hỏi các anh em, cháu của mình ở quê nhà Bình Minh, "Làm vườn cách nào để có thu nhập khá?" Anh em, các cháu tôi ở xứ sở miền Tây trọng điểm của nghề vườn là huyện Bình Minh, chậm chạp lắc đầu, "Không có cách nào cả!"  Họ biết rất rõ thu nhập từ hoa lợi của nó lại rất thấp. Làm vườn là nghề quanh năm phải tần tảo sớm hôm lo phân thuốc, cỏ, sâu rầy, tưới nước, tưới phân. Họ hầu như dành phần lớn thời gian cho nghề cơ cực này, và thu nhập đủ sống đã là may mắn rồi, làm gì có thu nhập cao dễ dàng để khá giả?

Gia đình một người gồm hai bên chính là phía bên cha, tức họ nội, và bên kia là phía mẹ, tức họ ngoại. Sự cân xứng hai họ này được lồng qua câu thành ngữ "môn đăng, hộ đối". Mặt này gia đình tôi khá là cân: nhà tôi, khi má tôi về làm dâu chỉ có khoảng vườn nhỏ (vài công đất, tức vài ngàn mét vuông), ít ruộng cho thuê lấy lúa gạo ăn, còn bà Nội tôi hưởng một ít đất gần chợ hơn, cho thuê đất để người ta làm nhà ở. Thu nhập hàng năm rất ít ỏi. Bên ngoại tôi cũng tương tự: chỉ có khoảnh vườn còn nhỏ hơn cả vườn tôi, và không có ruộng!

Tôi nói cảnh "mẹ nuôi con" để chỉ cảnh một mình má tôi phải quán xuyến bầy con đông. Bà đúng nghĩa bà mẹ quê Việt nam. Tôi gọi là "quê" vì nhà tôi ở nông thôn.  nhưng hoàn cảnh gia đình mỗi người mỗi khác. Má tôi là con gái của gia đình cũng nông thôn tương tự như ba tôi: ông bà tuy ở ruộng mà không làm ruộng, Ngoại tôi phải quán xuyến bầy con đông đúc,  phần lớn là con gái trong đó có má tôi. Làm sao khi không có ruộng nương trong tay, bà nuôi hết bầy con nhiều thế này:

- Thứ Hai là     Dì Hai tôi
- Thứ Ba          Dì Ba (mất sớm sau khi sinh hai con)
- Thứ Tư          Dì Tư
- Thứ Năm       (mất sớm ít lâu sau khi lấy chồng ở Cần Thơ)
- Thứ Sáu        Dì Sáu. (Dượng Sáu chung gánh Tàu Dạnh ở cùng xóm tôi, nhưng Dượng theo người Hoa đi lại buôn bán giửa VN- Hong Kong nên có ngã về thương mại hơn, nên Dì Dượng ở SG sau khi cưới xong).
- Thứ Bảy là má tôi (Đinh Thị Bảy)
-Thứ 8 là Cậu Tám Đinh Văn Nhuận (ba BS Hải)
- Thứ 9 là Cậu 9 Đinh Văn Hoá
Bạn sẽ thấy gia đình phía má tôi thậm chí đông anh em hơn cả gia đình Ba tôi. 

Phía Nội tôi, Ông Nội có hai nhánh con. Sau khi bà lớn mất, ông lấy Bà tôi (vợ kế). 

Bà Nội lớn:
Con:
Trần Văn Để
Trần Thị Ngoan
Tư mất sớm
Bà Nội tôi:
Trần Thị Hạnh (Cô Năm)
Trần Công Khanh (lấy thứ tiếp theo con bà lớn, nên tôi gọi là Bác Sáu Khanh
Trần Công Cẩn (ba tôi, thứ Bảy)
Cô Tám mất sớm
Trần Công Phận (Chú Chín)

Chỉ có chừng ấy người, nhưng ba tôi là con ở cùng mẹ, nên gánh vác hết chuyện gia đình, mà Má tôi là vai chính trong chuyện gia đình này! Má tôi và cảnh mẹ nuôi con.

Tôi nói cảnh "mẹ nuôi con" để chỉ cảnh một mình má tôi phải quán xuyến bầy con quá đông đúng nghĩa bà mẹ quê Việt nam. Tôi gọi là "quê" vì nhà tôi ở nông thôn, nhưng hoàn cảnh gia đình mỗi người mỗi khác. Má tôi là con gái của gia đình cũng nông thôn tương tự như ba tôi: ông bà tuy ở ruộng mà không làm ruộng, Ngoại tôi phải quán xuyến bầy con đông đúc,  phần lớn là con gái trong đó có má tôi. Làm sao khi không có ruộng nương trong tay, bà nuôi hết bầy con nhiều thế này,
- Thứ Hai là Dì Hai tôi
- Thứ Ba          Ba (mất sớm sau khi sinh hai con)
- Thứ Tư          Tư
- Thứ Năm       (mất sớm ít lâu sau khi lấy chồn ở Cần Thơ)
- Thứ Sáu        Dì Sáu. Dượng Sáu chung gánh Tàu Dạnh ở cùng xóm tôi, nhưng Dượng theo người Hoa đi lại buôn bán giửa VN- Hong Kong nên có ngã về thương mại hơn, nên Dì Dượng ở SG sau khi cưới xong.
- Thứ Bảy là má tôi (Đinh Thị Bảy)
-Thứ 8 là Cậu Tám Đinh Văn Nhuận (ba BS Hải)
- Thứ 8 là Cậu 9 Đinh Văn Hoá (mà ở Phương Lâm người lối xóm gọi là Chín Chiều(!)

Bạn sẽ thấy gia đình má tôi thậm chí đông hơn cả gia đình Ba tôi.

Nhà tôi đông anh em mà má tôi phải quán xuyến một mình, do ba tôi làm xa tít tắp, ở một làng gọi là Mỹ An, tỉnh Kiến Phong mà mỗi lần vào có khi phải quá giang trực thăng hành quân khi tàu bè không thể vào được những khi tình hình an ninh tồi tệ. Còn Bà Nội tôi là dân thành thị thứ thiệt: bà ở xóm Chài, Cần Thơ trong một gia đình "trọng nam, khinh nữ". Điều này thể hiện rõ qua anh em bà, hễ là con trai được đi học đàng hoàng, tới nơi, tới chốn khi khả năng gia đình nuôi được. Điển hình nhất là bà Nội tôi không được cho đi học chữ, và bà mù chữ đến ngày rời khỏi cuộc đời này. Trừ trường hợp bày Bảy không hiểu do quan niệm gia đình có thay đổi hay sao mà bà được đi học chữ, nên bà là con gái duy nhất có thể đọc "nhật trình", như cách các bà tôi gọi báo ngày thuở đó.  Người được cho ăn học và làm việc hồi thời Tây là anh thứ Hai tên Phan Quang Đán của Bà Nội tôi (bà Nội tôi thứ 3 Phan Thị Đối): Ông Hai có thể nói và viết chữ Pháp, đi làm việc cho chính quyền (quan chức nhà nước) và hiểu rõ luật lệ hơn ai cả phía Bà tôi.

Phía gia đình tôi Ông Nội có hai nhánh con (ông cưới bà Nội tôi khi bà Nội lớn mất):

Bà Nội lớn:
Con:
Trần Văn Để
Trần Thị Ngoan
Tư mất sớm

Bà Nội tôi:

Đặc điểm là các con của bà sau có thứ tiếp theo các con vợ 1: cô Năm Hạnh, rồi Sáu Khanh...
Trần Thị Hạnh (Cô Năm)
Trần Công Khanh
(Sáu Khanh)
Trần Công Cẩn (ba tôi, thứ Bảy)
Cô Tám mất sớm
Trần Công Phận (Chú Chín)

Chỉ có chừng ấy người, nhưng ba tôi là con ở cùng mẹ, nên gánh vác hết chuyện gia đình (vườn tược, ruộng nương, thờ cúng...). Má tôi là vai chính trong chuyện gia đình này!

Mấy chục năm trước đây Má tôi, người không làm ruộng hay rẫy gì cả, do cuộc sống gia đình giáo viên, bà phải tập làm tất cả: vườn, ruộng, rồi rẩy. Bà chăm mấy bờ cam, sao cho quả lớn tốt để bán chợ được mọi người chấp nhận. Thuở ấy, loài côn trùng phá hoại cam nhiều nhất là loài bướm chích hút nước cam, làm trái thối và rụng. Bà phải có cách bảo vệ nó. Chúng tôi không dùng thuốc đuổi bướm này, và sự thật lúc đó (khoảng 1960-1965 chưa có hay chúng tôi chưa biết có thuốc nào như thế.) Chúng tôi chỉ đơn giản xông khói trấu cho nó xua bớt phần nào bướm đó. Để khói này hiệu quả hơn, bà cho vào đống trấu un đó một ít cao su chết của vỏ xe hơi (tìm xin vỏ bỏ của các chỗ sửa xe). Mùi hôi nồng của khói này quả có phần nào xua bướm đi, và năm nào quả thu hoạch nhiều, tốt quả là chiến thắng lớn.

Cam & Bưởi Năm Roi
Khoảng cuối thập niên 1950, Ba tôi làm đơn dự tuyển giáo viên tiểu học của chế độ Ông Diệm. Công cuộc bình định của ông vào vùng đất mới cầm quyền khá cam go, mà gần nhất, và cũng là miền trù phú nhất của nước dưới quyền ông- Việt Nam Cộng Hoà đang bị xâu xé bởi các quyền lực của ba nhánh- chính quyền của ông Diệm (lực lượng chính phủ) và tôn giáo, mà hai nhánh chính đã có lực lượng võ trang là Cao Đài, cho vùng Tây Ninh, áp lực đã đè nặng xuống tận Sài Gòn. Lực lượng tôn giáo thứ hai là Hoà Hảo đã hầu như bao phủ các tỉnh miền Tây. Tướng Soái nắm quyền hầu như các tỉnh gốc của tôn giáo này (An Giang), và còn toả xuống tận Cần Thơ, và lực lượng ngày một có tham vọng mở rộng ra nữa. Lực lượng chính phủ non trẻ của ông Diệm phải giải quyết các lực lượng tôn giáo này. Ông dẹp yên tôn giáo Cao Đài, xong dẹp đội quân của tướng Ba Cụt (Trần Văn Soái) đang chiếm cứ phía Bắc Cần Thơ (Bình Minh). Dù sao thì trang bị của lực lượng tôn giáo vẫn thô sơ hơn lực lượng của chính phủ, và họ thường là một tập họp không được huấn luyện bài bản nào, nên lực lượng nhà nước nhanh chóng dẹp tan quân Bình Xuyên (chủ yếu do Cao Đài) và Hoà Hảo (Ba Cụt). Phải xong thập niên đầu cầm quyên (thập niên 60), ông Diệm mới thật sự nắm và làm chủ dãy giang sơn mà danh nghĩa dưới chế độ của ông là Việt Nam Cộng Hoà.

Sau khi dần dần làm chủ tình hình, ông Diệm chuyển sang củng cố các mặt khác của đất nước như kinh tế, giáo dục (mở rộng giáo dục), an ninh (Ấp Chiên lược). Trước năm 1960, trước khi ông Diệm hoàn toàn làm chủ về an ninh trước các lực lượng tôn giáo, ông đã chú ý phát triển giáo dục. Đồng Tháp Mười là vùng rộng lớn nhưng nạn thất học còn cao, cho nên ông đã chú ý triển khai chương trình giáo dục đến vùng này. Nhà nước tuyển dụng giáo chức cho các trường tiểu học mới mở ở vùng họ lập lại an ninh, và Ba tôi đã được tuyển dạy tại Trường Tiểu Học Mỹ An, thuộc tỉnh Kiến Phong lúc đó. Đó là xã xa, đường về trường an ninh chưa tốt, khi thì đi được nhưng có lúc bị cắt bởi Việt Cộng. Trong tình hình này  Ba tôi phải ở lại tại trường, có khi hàng năm mới về nhà khi bãi trường. Đường phải theo đò giang cách trở nên đi lai không thuận tiện. Ba tôi từng nói có khi phải quá giang trực thăng của quân đội về trường khi đường bị cắt lâu, mà trường thì không thể đóng cửa do giáo viên không đến được.

Nhưng trước khi Ba tôi đi, ông có làm một bờ vườn trồng cam. Khi tôi biết thì cam này đã có trái. Nhờ đất mới, cam rất tốt, trái sai oằn nhánh, và Má tôi hàng ngày phải mang ra chợ một lượng trái mà người có thể mang mỗi lần đi chợ. Cam được cho vào một cái rổ to và bà mỗi ngày đội rổ đó ra chợ huyện non hai cây số để bán.  Tiền thu được thì mua thịt cá hay rau cải linh tinh cho ăn uống hàng ngày.

Bưởi năm roi của Má tôi sau cam
Má tôi khi ở quê mình đã từng nghe tiếng Bưởi Năm Roi của một gia đình quan chức cũ trong làng (gần quê má tôi nên bà rất rõ gia đình này, gọi là Chủ ....). Ông này giàu do quyền thế đã đành, nhưng lại có những  ý tưởng "làm vườn" ai cũng nể phục. Khoảng những năm 40 và 50, làm vườn là từ lạ lẫm đối với quê tôi, vốn vẫn là miền đất mới trù phú, cả ruộng đồng và vườn. Vườn trong giai đọạn này đơn giản vô cùng: nhà nào cũng dành khoảng đất quanh nhà để trồng các cây ăn trái thông thường, hay đôi khi có lạ một chút. Các cây này gồm xoài, chuối, qúit, bưởi, cam... (thông thường). Xa lạ hơn có sapoche, măng cụt, lêcuma... một loại trái cây mà tôi quá quen thuộc do nhà có trồng nhiều cây từ lâu đời (có lẽ chỉ từ đời ông Nội tôi).

Những cây trái này không hấp dẫn chúng tôi, vì chúng tôi có nhiều khi vào mùa, dù vườn chúng tôi chỉ trồng lẻ tẻ chứ không phải "chuyên canh" như những năm 1960 người ta làm vườn với tính chuyên môn cao hơn và chú trọng sản lương hơn cho cây trồng trong vườn. Thập niên sáu mươi nếu có vài cuộc cách mạng thì phải nói cách làm vườn chuyên canh này, lúa ngắn ngày được ông Thiệu đưa từ Viện lúa gạo Quốc tế về giới thiệu cho nông dân trồng, và cuộc cách mạng trong thuốc nông dược và phân hoá học. 

Làm Rẩy

Từ làm vườn xong bà chuyển sang làm rẩy! Quả là nhiều chuyện khi kể lại việc này. Do bà là người chính phải đi chợ hàng ngày để mua rau cải, bà biết có giống cải mà trồng được thì có thu nhập đáng kể. Đó là salad xoong, một loại rau ăn sống dùng với lẩu và một số món ăn khác trong đám tiệc. Thể là bà đi mua giống, hỏi người ta cách trồng, về bày cho gia đình làm. Gia đình chúng tôi  mang tiếng là "chủ đất" xưa, nhưng thật ra khi tìm một khoảng trống để làm vài luống trồng cải này cũng không có! Bà đơn giản hỏi thuê người ta, vốn là người thuê lại đất của cha ông chúng tôi (nhưng phần hưởng là chú bác của chúng tôi chứ không phải gia đình mình). Người ta dễ dàng cho chúng tôi thuê lại, do làm rẫy nên tiển thuê này cao hơn thuê để làm lúa, và người ta sẵn sàng cho "chủ" thuê lại. Má tôi phải chỉ cho tôi, lúc đó học lớp bốn, lớp 5 Tiểu học, ra công lên luống để làm đám rẫy này. Nếu má tôi là nhà "cách mạng" của gia đình, vì từ phụ nữ không biết gì về ruộng vườn nay đã làm vườn, rồi rẫy...

Chuyến đi lạ...(viet 6/6/2023)
Có lần tôi chở má tôi sang Cần Thơ. Bà bảo tôi chở bà đến nhà Dì Năm (chị bà con của Má tôi) ở  Ngã Bảy (trước dì ở Bình Minh, sau đã chuyển về đây để ở cùng con gái là chị Vàng con dì). 

Do lần đi này tôi có cùng đi, nên nghĩ là chuyện thăm viếng thường tình của hai chị em họ với nhau. Khi xưa, hồi Dì Năm còn ở huyện, và chân còn khoẻ có thể đi bộ xa, thỉnh thoảng Bà vào nhà tôi trò chuyện cùng Má tôi có khi cả ngày hay cả buổi, rất tâm đắc khi hai bà kể nhau chuyện xưa nay của thời đó. Nhưng lần đi đó sau khi gặp được Dì và nói chuyện ít lâu thì má tôi bảo tôi chở bà đi xóm, thăm người quen. Nhưng lần đó xóm không phải ở Bình Minh mà là ở vùng Lái Hiếu, để bà thăm người quen mà sau này khi tôi hỏi, bà mới cho biết bà quen đó là người cùng họ Đinh của nhánh vẫn còn ở lại nơi này (quê của Ông Ngoại tôi xuất phát từ vùng này). Tôi chở bà đi một đoạn, đến một cây cầu thì bà bảo cho bà xuống để vào nhà người quen. Mặc dù rất muốn chở bà đến nơi, nhưng hình như có lý do nào đó mà bà nhất định chỉ đi bộ vào, và bảo tôi cứ về, để bà tự lo sau khi viếng người quen xong! Đây là một chuyện lạ: người Má tôi ghé thăm xưa nay tôi chưa hề biết, nhưng trước sự dứt khoát của Má tôi làm tôi chỉ có cách duy nhất là quay về.

Sau lần đó, tôi có lần hỏi Má tôi về người quen mà Má thăm. Bà mới cho  biết đó là người bà quen rất lâu rồi. Hồi trước chúng tôi có trồng salad xoong, mà thỉnh thoảng má tôi phải mang nó sang chợ tỉnh (Cần Thơ) để bán. Những lần đi như thế có khi bà phải bán nửa ngày hay hơn nữa có khi hết cả ngày. Môt trong những người bà biết có quê ở Lái Hiếu, là nơi má tôi biết là gốc gác của ba Ông ngoại tôi. Má tôi hỏi han và lần đến người bà con của mình, gồm cả bà khách đó. Má tôi bảo trước đây bà đã từng đến quê bà này, và biết nhiều anh em của bà, cũng là bà con của má tôi. Nhưng lần tôi chở bà đi người quen đó và nhiều người mà trước bà có quen biết nay đã không còn nữa. Chỉ còn con cháu của họ, khi nhắc thì chúng nhớ thuở bà ghé thăm năm xưa, nhưng nói chung thế hệ đã khác nhau, quan tâm của chúng không còn như của mẹ chúng nữa, dù chúng vẫn tiếp bà như là một sự kiện bất đắc dĩ. Và chuyến đi này có lẽ cũng là lần cuối cùng mà Má tôi về quê hương của ông bà mình. Tôi tin là trong tất cả anh em của Má tôi, má tôi là người duy nhất về đấy hơn một lần. Các cậu, Dì tôi không một ai biết và có thời gian làm chuyện này!

Salad xoong
Salad xoong là một trong những cây cải "thuốc" mà má tôi là một trong những người đem giống về trồng tại quê hương tôi (xin hiểu quê hương ở đây mang nghĩa hẹp, nó là nhà, xóm làng nơi tôi sinh ra). 

Như tôi nói, má tôi có nhiệm vụ tần tảo nuôi bầy con đông mà bố tôi chỉ là giáo viên trường làng, lại công tác xa, có khi mỗi năm chỉ về nhà một lần khi nghỉ hè, nên mọi việc nhà trút cả lên vai của má tôi, vì bà tôi đã già không làm được gì cho gia đình nữa. Má tôi đúng nghĩa là "làm dâu": ngoài việc nuôi bầy con đông, bà còn phụ trách tất cả các việc nhà như cơm nước hàng ngày, ba bốn đám giổ mà nhà tôi, nơi hưởng đất hương hoả phải cúng kiến. Trong việc nhà đó, hoa lợi từ vườn nhà ít; nó gồm những cây xoài, bờ bưởi, bờ cam.... Tuy vậy, đôi khi từ số hoa lợi ít ỏi này, bà phải đi chợ nhiều, đôi khi đi chợ xa (chợ Cần Thơ)  những khi chợ nhà (là chợ huyện) do vào vụ mùa không dễ bán nhanh, nhất là cam. Nhờ những chuyến đi xa này, và do thúc bách của việc nhà, bà không chỉ làm cái việc bán đồ vườn. Thật ra, tôi biết trong việc mưu sinh, duy trì cuộc sống  bình thường của nhà tôi, bà đã quan sát nhiều mỗi khi đi chợ xa đó. Những năm đó (thập niên 1960) bà tiếp xúc với cải "xalad xoong", thức rau qúi cho người bệnh dùng, bà đã nảy sinh ý trồng nó ở quê mình! Bà thấy rất rõ cây cải này có giá cao và ổn định, vì nó phải mang từ Đà Lạt về, và thường dành để bồi dưỡng người bệnh nên có giá cao. Chắc chắn bà phải hỏi han nhiều người đã đi trước bà, tức những người đã trồng được nó ở miền Tây nóng bức, nên cách đơn giản bà dùng là làm giàn che bớt nắng nóng. Salad xoong là loài cải duy nhất ở miền Tây phải trồng dưới giàn che nắng!

Nasturtium officinale hoặc Nasturtium microphyllum là tên khoa học của cây cải không ưa nắng nóng miền Tây này, và tôi thấy tiếng Anh gọi nó là watercress (watercress tôi không chắc phần tiếng Anh này). Phần giá trị dinh dưỡng của cây rau này, là khó chối cải do mang tính khoa học cao, vì số liệu có được qua các phân tích phức tạp của ngành hoá và thực phẩm. Cái này không cần phải bàn. Cái tôi lưu ý nhất là cây cải này tuy măt tốt là như thế, nhưng nên lưu ý, vì để trồng được nó mà không bị côn trùng phá hoại, thường người ta phải dùng thuốc trừ sau thường xuyên. Cái quan tâm của người dùng là làm sao có nguồn cải tốt không hay ít bị ảnh hưởng của thuốc trừ sâu này.

Chuyện trồng một cây cải vùng mát mẻ (cải này sinh trưởng tốt trong khí hậu mát mẻ của Đà Lạt) này ở nơi nóng bức như ĐB sông Cửu Long này không phải là chuyện dễ, nhưng bà đã thành công trong việc trồng nó. Chẳng những bà thành công, mà cả xóm tôi sau đó cũng thành xóm Cải Salad Xoong này! Thu nhập tốt của giống cải này làm cả xóm tôi thành xóm chuyên canh cây cải này. Nó cung cấp cho các tỉnh thành xung quanh đã đành, nhưng quan trọng hơn là cung cấp cho Sài Gòn, khi vài bà "lái cải" bắt đầu lấy hàng này để mang đi Sài Gòn cho các vựa rau cải ở đó. Sài Gòn là thành phố lớn nhất thời đó, nên lượng cung cấp cho nó hẳn là phải lớn, cho nên xóm tôi thành xóm chuyên cung cấp hàng này mãi đên sau năm 1975 là năm Giải phóng, và nhiều năm sau này nữa, cho tới hơn mườn năm sau Giải phóng, cải của Đà Lạt cùng loại, do trồng đúng khí hậu nên to, mập, ăn ngon hơn thay thế dần nguồn cải của quê tôi. Trong phong trào xalad xoong này, mẹ tôi chỉ có một số bờ trồng ít ỏi, nhưng nhiều người đã chuyển 1 phần ruộng của mình thành "rẫy" chuyên canh cải này. Người điển hình nhất của xóm là bác Hai Hạnh, có con là Năm Ca, là bạn chơi thời niên thiếu của anh tôi. Hai Hạnh là người chuyên làm rẫy lớn, trồng dưa hấu Tết, cải tùa xại Tết, sau đó mới chuyển hẳn sang cải salad xoong này, do hàng này bán quanh năm, còn hàng kia chỉ bán Tết mà thôi.

Tôi cũng trồng cải

Nhà tôi ngoài mảnh vườn nhỏ, đã có nhiều cây tạp không thể chuyển thành nơi trồng cải được. Má tôi đã mạnh dạn thuê lại một thửa đất của tổ tiên mình đã cho người khác thuê để làm "rẫy", là miếng trồng cải này. Tôi lúc đó tuy còn nhỏ, được Má tôi giao nhiệm vụ lên luống miếng đất nhỏ đó để trồng cải này. Tôi đươc bà cho 1 luống nhỏ trong mấy luống dài hơn của gia đình. Với luống nhỏ đó, đôi khi vào đợt bán hàng, tôi có tiền túi rủng rỉnh trong số bạn bè chung lớp của mình! Chà, nhớ mà thương má tôi đã có cách cho con mình hãnh diện bằng công việc làm này.

No comments:

Post a Comment